Khoá luận tốt nghiệp
khác khiến cho lần đầu tiên diện tích cà phê trong nớc giảm khoảng 20.000ha
xuống còn 500.000ha.
Nhìn chung, diện tích cà phê tăng qua các năm. Nguyên nhân chủ yếu là
do:
* Điều kiện đất đai ở Việt Nam rất thuận lợi cho việc trồng và phát triển
cây cà phê. Việt Nam có khoảng 10,5 triệu ha đất nông nghiệp (chiếm 1/3 diện
tích cả nớc). Trong đó, có những loại thổ nhỡng có giá trị kinh tế cao nh đất đỏ
bazan trải dài từ cao nguyên Trung bộ đến Đông Nam Bộ. Theo thống kê của
Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, diện tích đất có thể trồng đợc cà phê
gồm 3 loại đất: S1 (rất thích hợp trồng cà phê); S2 (thích hợp trồng cà phê) và
S3 (ít thích hợp trồng cà phê). Tổng số diện tích đất có thể trồng đợc cà phê
trong cả nớc là 2.368.765 ha, trong đó hai loại S1 và S2 là 1.084.660 ha chiếm
46%. Nếu chỉ so sánh với hai loại đất S1 và S2 thì với diện tích cà phê khoảng
500.000 ha chúng ta mới chỉ khai thác khoảng 47%. Vì vậy quỹ đất để trồng cà
phê là rất dồi dào và diện tích cà phê vẫn có thế mở rộng đợc trong những năm
tới.
* Cà phê là một trong những loại cây công nghiệp mang lại lợi nhuận cao
hơn so với cây lơng thực. Theo tính toán của Viện quy hoạch và thiết kế nông
nghiệp - Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn thì lợi nhuận của cà phê gấp
3,4 lần so với sản xuất gạo và 2,9 lần ngô. Hơn nữa, cây cà phê là một loại cây
công nghiệp dài ngày, việc đầu t ban đầu chỉ cần một lần, sau đó là đầu t bổ
sung. Điều này rất phù hợp với nguồn vốn eo hẹp của các hộ nông dân ở nớc ta.
Cụ thể Viện nghiên cứu đã đa ra hiệu quả và mức vốn đầu t cho một ha cây cà
phê trồng ở Tây Nguyên, một vùng đất rất thích hợp với loại cây này, thì thứ tự
mức lợi nhuận nh sau (so với một số loại cây công nghiệp khác)
Bảng 2: Mức lợi nhuận đối với mỗi loại đất trồng
Đơn vị : 1000đ/ha/năm
Cây công nghiệp Cà phê Tiêu Cao su Chè Điều
Đất rất thích hợp (S1)
7508 4740 4200 3720 3094
Nguyễn Thị Hiền - A11K37F
5
Khoá luận tốt nghiệp
Đất thích hợp (S2)
4035 2440 3050 3110 2800
Đất ít thích hợp (S3)
2057 _ 2610 2200 2144
Nguồn: Kết quả thống kê của Bộ Nông Nghiệp
Do hiệu quả kinh tế cao nh vậy, nhiều vùng, nhiều nơi trong cả nớc đã
chuyển sang trồng và thâm canh cây cà phê. Thậm chí , do có một thời gian dài
(1997 - 1998) cà phê bán đợc giá cao, sản xuất thu đợc lợi nhuận siêu ngạch,
thêm vào đó các hộ nông dân lại đợc giao đất và tự quản lý công việc trồng trọt
kinh doanh của mình. Chính vì vậy đã xảy ra tình trạng đua nhau ồ ạt trồng cà
phê. Nhiều ngời nhất là dân di c tự do vào chặt phá rừng để trồng cà phê. Theo
thống kê sơ bộ, hàng chục ngàn ha rừng đầu nguồn đã bị tàn phá. Chính vì vậy,
trong những năm qua diện tích cà phê tăng tràn lan, đặc biệt là giai đoạn 1995 -
2000.
2. Năng suất
Một điều mà ngành cà phê Việt Nam đáng tự hào là năng suất cà phê
Việt Nam đợc đánh giá là cao nhất thế giới, vợt xa năng suất của các nớc sản
xuất cà phê khác, kể cả những nớc luôn dẫn đầu về sản lợng nh Brazil,
Colombia, Indonesia. Đấy chính là điểm mạnh và cũng là lợi thế cạnh tranh của
cà phê Việt Nam khiến cho nhiều nớc sản xuất cà phê trên thế giới phải kinh
ngạc. Năng suất bình quân của Việt Nam qua một số năm nh sau:
Bảng 3: Năng suất bình quân qua các giai đoạn
Năm
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Năng suất(tạ/ha)
14 14,4 15 15,2 16 20 21
Nguồn: VINACAFE
Trong khi năng suất cà phê của hầu hết các nớc đạt dới 1 tấn/ha thì cà
phê Việt Nam trong năm qua đã đạt tới kỷ lục 2,1 tấn/ha và luôn giữ vị trí hàng
đầu (năng suất bình quân của thế giới là 6,05 tạ/ha)
Bảng 4: Năng suất cà phê của một số nớc năm 2001
Nguyễn Thị Hiền - A11K37F
6
Khoá luận tốt nghiệp
STT Tên nớc Năng suất kg/ha Hệ số so với Việt Nam
1. Việt nam 2.101 1
2.
ấn Độ
967 0.46
3. Colombia 924 0,44
4. Brazil 792 0,38
5. Indonesia 738 0,35
6. Uganda 525 0,25
7. Mexico 368 0,18
8. Venezuela 300 0,14
(Nguồn ACPC, ICO, Commodity expert.com, niên giám thống kê 2000)
Bên cạnh nguyên nhân trong những năm qua Viện nghiên cứu cà phê
Việt Nam đã cung cấp hàng chục tấn hạt giống mới, năng suất cao cho các địa
phơng thì đất đai cùng với điều kiện khí hậu thích hợp là hai yếu tố quan trọng
giúp cho cà phê Việt Nam đạt năng suất cao. Mặt khác, cây cà phê Việt Nam lại
trẻ hơn rất nhiều so với cà phê của các nớc khác và hiện nay đang là thời điểm
cho năng suất cao nhất
Ngành cà phê Việt Nam luôn tự hào đạt đợc năng suất cao nhất thế giới,
hơn cả Brazil, nhng trớc những diễn biến của thị trờng cà phê thế giới hiện nay
thì ngành cà phê Việt Nam cần phải xem xét lại. Bởi vì cà phê Việt Nam đạt
năng suất cao nhất thế giới nhng mức chi phí một tấn cà phê nhân cũng ở mức
cao. Và năng suất cao không hẳn đã đem lại hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy, bên
cạnh việc duy trì năng suất đã đạt đợc, Việt Nam cần phải chú trọng nâng cao
chất lợng và hạ giá thành sản phẩm.
3. Sản lợng
Năm 2000 vừa qua là năm đột phá của ngành cà phê Việt Nam về sản l-
ợng. Sản lợng cà phê đạt mức cao nhất từ trớc tới nay và vợt xa chỉ tiêu đặt ra,
đa Việt Nam vơn lên vị trí thứ hai thế giới về sản lợng cà phê và đứng đầu thế
giới về sản lợng cà phê vối ( cà phê vối của Việt Nam chiếm 18% sản lợng cà
phê vối toàn cầu). Đây là kết quả tất yếu của năng suất cao và diện tích cà phê
ngày càng đợc mở rộng. Hơn nữa, đây cũng là giai đoạn cây cà phê cho năng
Nguyễn Thị Hiền - A11K37F
7
Khoá luận tốt nghiệp
suất cao nhất. Có thể nói, nếu xét về năng suất và sản lợng thì ngành cà phê
Việt Nam không thua kém bất kỳ một ngành cà phê nào trên thế giới.
Bảng 5 : Diễn biến sản lợng cà phê Việt Nam
Niên vụ Sản lợng (tấn) Số lợng tăng so với niên vụ tr-
ớc (tấn)
1992/93 140.400 _
1993/94 181.200 40.800
1994/95 211.920 30.720
1995/96 236.280 24.360
1996/97 242.300 6.020
1997/98 413.580 171.280
1998/99 404.206 - 9374
1999/00 700.000 295.794
2000/01 900.000 200.000
Nguồn: Báo cáo VICOFA
Sau khi Việt Nam chính thức gia nhập vào tổ chức cà phê thế giới (ICO)
vào năm 1991, hoạt động sản xuất cà phê của Việt Nam bắt đầu đi vào quy mô
hơn, sản lợng tăng đều qua các năm và Việt Nam luôn giữ vị trí là một trong ba
nớc sản xuất cà phê hàng đầu thế giới. Trừ niên vụ 1998/1999, do ảnh hởng của
hiện tợng ElNino, thời tiết khô hạn, sản lợng cà phê Việt Nam giảm 9374 tấn
nhng sau đó lại tăng mạnh vào niên vụ 1999/2000 và 2000/2001. Nếu nh so với
niên vụ 1992/1993 diện tích cà phê chỉ tăng gấp 5 lần thì sản lợng tăng tới gần 9
lần. Đây cũng chính là yếu tố góp phần tạo nên sự biến động thị trờng trong
niên vụ vừa qua.
Từ trớc tới nay, sản lợng cao luôn là mục tiêu đặt ra của ngành cà phê
Việt Nam nói chung cũng nh của mỗi hộ trồng cà phê nói riêng. Đến nay, mục
tiêu đó đã phần nào đạt đợc và đã đến lúc Việt Nam cần thay đổi quan điểm về
mục tiêu đặt ra cho toàn ngành. Mục tiêu đặt ra lúc này không chỉ là sản lợng
cao mà chúng ta cần phải xét đến hiệu quả kinh tế.
4. Công nghệ chế biến.
Nguyễn Thị Hiền - A11K37F
8
Khoá luận tốt nghiệp
Chế biến là khâu có tác động quan trọng đến chất lợng sản phẩm cà phê
xuất khẩu. Vậy mà, theo đánh giá của Chủ tịch hội đồng quản trị Tổng công ty
cà phê Việt Nam thì " nhìn lại toàn bộ công nghệ sản xuất cà phê của Việt Nam
hiện nay, công nghệ chế biến cà phê vẫn là khâu yếu nhất, ít đợc quan tâm, ít đ-
ợc đầu t, cơ sở vật chất chế biến không tơng xứng với sản lợng cà phê quả hàng
năm, công nghệ chế biến cha đợc định hình đến từng cơ sở "
Khâu chế biến cà phê bắt đầu từ giai đoạn thu hái cà phê, chọn lọc sơ chế
cà phê, sau đó chế biến thành cà phê nhân và cà phê thành phẩm. Trong khi các
nớc sản xuất cà phê khác trên thế giới đã sử dụng may thu hoạch cà phê thì ở
Việt Nam vẫn phổ biến kiểu thu hoạch tuốt cành. Cách thu hái này không chỉ
mất nhiều thời gian mà còn khiến cho cà phê thu hoạch bị lẫn cả quả xanh non
hoặc quả chín nẫu.
Đối với khâu sơ chế, trình độ công nghệ vẫn còn rất lạc hậu. Sau năm
1975, khi đi vào phát triển sản xuất cà phê, chúng ta mới có một ít xởng chế
biến cũ kỹ, chắp vá. ở phía Bắc có một số xởng chế biến ở Đồng Giao, Phủ
Quỳ với thiết bị lắp đặt từ năm 1960-1962 do Cộng hoà Dân chủ Đức chế tạo. ở
phía Nam có một số xởng của các doanh điền cũ nh Rossi, Delphante để lại
công suất không lớn. Sau đó, cùng với việc mở rộng diện tích trồng cà phê,
chúng ta cũng đã bắt tay vào xây dựng các xởng chế biến mới. Các cơ sở chế
biến với thiết bị mới, chất lợng sản phẩm khá đợc xây dựng trong vòng 5-7 năm
trở lại đây, tuy nhiên trình độ công nghệ vẫn còn rất đơn giản và thua xa các n-
ớc sản xuất cà phê khác trên thế giới.
Cả nớc ta hiện nay chỉ có khoảng 50 dây chuyền chế biến cà phê công
nghiệp, tổng công suất đạt 100.000 tấn/năm trong khi khối lợng cà phê xuất
khẩu của niên vụ vừa qua là 700.000 tấn. Điều này có nghĩa là phần lớn sản l-
ợng cà phê đợc chế biến tại các hộ gia đình bằng những chiếc máy xay xát nhỏ,
công nghệ đơn giản.
Nguyễn Thị Hiền - A11K37F
9
Khoá luận tốt nghiệp
Đối với phơng pháp chế biến khô, phơng pháp phụ thuộc rất nhiều vào
thời tiết, kho cất trữ và sân phơi thì cà phê thu hái về chủ yếu đợc xử lý phân tán
ở từng hộ nông dân qua con đờng phơi khô trên cả sân xi măng lẫn sân đất.
Diện tích sân phơi thiếu thốn không đủ để phơi cà phê. Hậu quả là cà phê hái về
bị bỏ đống, ảnh hởng nghiêm trọng đến chất lợng và hơng vị. Một chi nhánh
của VINACAFE ở Đăklăk cho biết bình quân 218 ha cà phê mới có một sân
phơi, trong khi đó tiêu chuẩn của thế giới là 100 ha cà phê có 1 ha sân phơi
(trong khi độ ẩm của Việt Nam cao hơn so với nhiều nớc khác trên thế giới).
Không chỉ sân phơi mà hệ thống sấy khô cà phê cũng không đợc trang bị. Vào
những năm ma kéo dài trong vụ thu hoạch cà phê phải sấy bằng than đá khiến
cho độ ẩm của cà phê không đạt tiêu chuẩn. Còn đối với phơng pháp chế biến -
ớt.
Còn đối với phơng pháp ớt, phơng pháp chế biến hiện đại hơn thì hiện
nay Việt Nam vẫn cha trang bị đợc đầy đủ hệ thống máy móc và không đáp ứng
đợc nhu cầu lợng nớc xả rất lớn.
Ngoài các vấn đề về giống, khí hậu, canh tác thì việc áp dụng công nghệ
sau thu hoạch cha hợp lý là một nguyên nhân quan trọng làm giảm chất lợng cà
phê Việt Nam. Vì vậy, đòi hỏi ngành cà phê nớc ta cần có một sự chuyển biến
lớn trong công nghiệp chế biến để ngành cà phê nớc ta có thể tồn tại và tiếp tục
phát triển.
II. Tình hình xuất khẩu.
1. Kim ngạch và khối lợng xuất khẩu
Có lẽ cà phê là một trong số ít các mặt hàng xuất khẩu đáng tự hào nhất
của Việt Nam, bởi vì có tới 95% sản lợng cà phê hàng năm dành cho xuất
khẩu. Từ chỗ chỉ là một ngành hàng xuất khẩu nhỏ bé, hàng năm chỉ xuất khẩu
chừng 5 - 7 ngàn tấn với kim ngạch xuất khẩu không quá 10 triệu đến nay cà
phê đã trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Nguyễn Thị Hiền - A11K37F
10
Khoá luận tốt nghiệp
Khối lợng cà phê Việt Nam xuất khẩu qua các năm không ngừng tăng
lên, ngày càng khẳng định vững chắc vị trí chủ lực của mặt hàng cà phê trong
cơ cấu hàng xuất khẩu và đa Việt Nam trở thành một trong 3 nớc xuất khẩu cà
phê lớn nhất trong khu vực Châu á Thái Bình Dơng: Indonesia, ấn Độ và Việt
Nam. Đặc biệt là với khối lợng xuất khẩu đạt 14.578 nghìn bao
(1 bao = 60 kg) trong niên vụ 2/2000 - 2/2001 Việt Nam đã trở thành nớc xuất
khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới sau Brazil. Đạt đợc thành tựu đó trớc hết là nhờ
chính sách đổi mới của nhà nớc phù hợp với nguyện vọng của nông dân là đợc
làm giầu trên mảnh đất của mình. Và nguyên nhân khách quan là do giá cà phê
trên thị trờng thế giới những năm gần đây (trớc niên vụ 99/00) diễn biến theo h-
ớng có lợi cho ngời sản xuất, cà phê sản xuất ra bán đợc giá cao hơn và thu
nhập của ngời dân cũng tăng lên đáng kể. Sự kích thích của giá cả đã thúc đẩy
cà phê Việt Nam phát triển nhanh chóng.
Nguyễn Thị Hiền - A11K37F
11
Khoá luận tốt nghiệp
Bảng 6: Số lợng và kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam qua các năm
Niên vụ Khối lợng xuất
khẩu (tấn)
Đơn giá bình quân
(USD/tấn)
Giá trị kim ngạch
xuất khẩu (USD)
1994 - 1995 212.038 2.633,0 558.296.054
1995 - 1996 221.496 1.815,0 402.015.240
1996 - 1997 336.242 1.198,0 402.817.916
1997 - 1998 395.418 1.521,0 601.430.778
1998 - 1999 404.206 1.373,0 554.974.838
1999 - 2000 653.678 823,0 537.976.994
2000 - 2001 874.676 436,6 381.883.542
Nguồn: Thời báo kinh tế
Trong những năm qua, mặc dù khối lợng xuất khẩu tăng cao, song kim
ngạch lại giảm sút đáng kể so với mấy năm trớc đấy. Có thể thấy trong niên vụ
2000/2001, số lợng cà phê xuất khẩu gấp 4 lần niên vụ 1994/1995, nhng kim
ngạch xuất khẩu lại chỉ đạt xấp xỉ một nửa do giá xuất khẩu đã giảm đi 13,88%
so với niên vụ 1994/1995, vụ cà phê mở đầu cho một chuỗi sáu vụ liên tiếp của
thời kỳ vàng son của ngành cà phê Việt Nam. Thực trạng này càng làm cho vấn
đề cà phê trở nên bức xúc. Nh kết quả của bảng trên cho thấy, lợng cà phê xuất
khẩu năm 2001 tăng 87% so với năm 1999 nhng giá cà phê xuất khẩu giảm đi
64% khiến cho kim ngạch xuất khẩu giảm 33%. Theo báo cáo của hiệp hội cà
phê ca cao (VICOFA), 9 tháng đầu niên vụ 2001/2002, cả nớc xuất khẩu đợc
545.837 tấn, bằng khoảng 92% so với niên vụ 2000/2001, song kim ngạch xuất
khẩu lại chỉ đạt 190 triệu USD, giảm 31,6% so với cùng kỳ năm trớc. Trong hai
niên vụ gần đây kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam không tăng và thậm
chí còn giảm do giá cà phê trên thị trờng thế giới giảm đa hoạt động sản xuất và
xuất khẩu cà phê Việt Nam rơi vào tình trạng lao đao.
2. Một số thị trờng xuất khẩu chính
Thị trờng xuất khẩu cà phê của Việt Nam ngày càng đợc mở rộng. Từ
chỗ chỉ xuất khẩu sang khoảng 40 nớc vào năm 1990, thì đến năm 1999 thị tr-
Nguyễn Thị Hiền - A11K37F
12
Khoá luận tốt nghiệp
ờng xuất khẩu cà phê Việt Nam đã vơn tới 52 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đặc
biệt, đến nay cà phê Việt Nam đã xuất sang gần 64 quốc gia.
Trớc năm 1990, Đông âu là thị trờng tiêu thụ chính cà phê Việt Nam.
Nhà nớc Việt Nam ký kết những hiệp định với chính phủ Liên Xô và các nớc
Đông Âu theo một chơng trình hợp tác mà theo đó các nớc bạn đầu t vốn, cử
chuyên gia sang để phát triển trồng và chế biến cà phê, còn Việt Nam thanh
toán lại bằng sản phẩm cà phê. Việc Việt Nam gia nhập tổ chức cà phê thế giới
(ICO) năm 1991 là một bớc ngoặt đánh giá sự phát triển của ngành cà phê Việt
Nam nói chung cũng nh sự mở rộng thị trờng xuất khẩu cà phê nói riêng. Đến
nay, Việt Nam là một trong những nguồn cung cấp cà phê cho những thị trờng
tiêu thụ lớn trên thế giới.
Bảng 7: 10 nớc nhập khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam.
1995/1996 1996/1997 1997/1998 1998/1999 1999/2000
Nớc % Nớc % Nớc % Nớc % Nớc %
Mỹ 28,6 Mỹ 24,3 Mỹ 21,2 Đức 16.7 Bỉ 15,9
Đức 16,3 Đức 15,8 Đức 17,8 Mỹ 15,9 Mỹ 15,7
BaLan 6,89 Pháp 7,11
ý
8,81
ý
10,4 Đức 15,4
Nhật 5,88 Bỉ 6,82 Anh 8,04 TB Nha 8,51 TB Nha 8,44
ý
5,51
ý
5,57 TB Nha 7,86 Pháp 7,94
í
7,15
Anh 5,37 TBNha 5,54 Pháp 5,42 Anh 5,91 Pháp 5,26
TBNha 4,04 Anh 5,37 BaLan 4,45 Bỉ 5,25 BaLan 4,36
Hàn
Quốc
3,95 Angieri 3,16 Nhật 3,70 Nhật 4,70 Anh 3,08
Pháp 3,71 BaLan 2,99 Hàn
Quốc
3,55 Austria 4,17 Nhật 3,45
Singapore 3,67 Nhật 2,95 Bỉ 3,29 BaLan 4,05 Hàn
Quốc
3,01
Nguyễn Thị Hiền - A11K37F
13
Khoá luận tốt nghiệp
Nguồn: Viện kinh tế thế giới
Nếu nh trong các niên vụ trớc đây, Đức và Mỹ thay phiên giữ vị trí số
một trong số các nớc nhập khẩu cà phê Việt Nam thi đến niên vụ 1999/2000, có
một sự thay đổi, Bỉ từ vị trí thứ 7 trong niên vụ 1998/1999 vơn lên vị trí thứ nhất
niên vụ 1999/2000. Tuy nhiên, theo xu thế chung Đức và Mỹ vẫn là hai nớc
nhập khẩu cà phê Việt Nam nhiều nhất và ổn định nhất. Niên vụ 2000/2001,
Đức lại nổi lên là khách hàng tiêu thụ số 1 của Việt Nam với 112.739 tấn, Mỹ
nhập khẩu cà phê Việt Nam ít đi ở vị trí số 2 với số lợng nhỏ đi nhiều là 89.228
tấn.
Trong niên vụ vừa qua, dù tình hình giá cả biến động không có lợi cho
chúng ta nhng thị trờng tiêu thụ cà phê Việt Nam không những không giảm mà
còn tăng từ 61 lên 64 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tuy nhiên về lợng tiêu thụ của
từng nớc có những thay đổi lớn Niên vụ 2000/01 có 15 nớc hàng đầu nhập
khẩu trên 10.000 tấn, tổng cộng đã nhập 614.275 tấn chiếm 86,06% thị phần.
Và danh sách 15 nớc này qua hai niên vụ chỉ thay đổi một nớc còn 14 nớc giữ
nguyên nhng có thay đổi vị trí. Mời bốn nớc đó là: Đức, Mỹ, Tây Ban Nha, ý,
Bỉ, BaLan, Pháp, Nhật, Hàn Quốc, Anh, Philipin, Hà Lan, úc, Hungari. Nớc
đứng 15 ở vụ 2000/01 là Canada và ở vụ này là Romania. ấn Độ và Indonesia
tuy là hai nớc sản xuất cà phê vào hàng lớn ở Châu á nhng hàng năm vẫn mua
cà phê của ta.
Hiện nay, ngành cà 40
phê Việt Nam đang cố gắng phát triển, mở rộng thị trờng sang khu vực Châu
á. Trung Quốc, Nga là hai thị trờng lớn và rất tiềm năng. Tuy nhiên, hiện nay,
Trung Quốc vẫn chỉ đứng thứ 16 trong danh sách các nớc nhập khẩu cà phê của
Việt Nam ( 9 tháng đầu niên vụ 2002 này mới nhập 55.907 tấn) và Nga chỉ
đứng thứ 48 (chỉ nhập 225 tấn)
Nguyễn Thị Hiền - A11K37F
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét