Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng xuất khẩu tôm

Như vậy vấn đề đặt ra với thị trường tôm nội địa là phải cho ra các sản phẩm
phong phú về chủng loại: đồ tươi, khô, đông lạnh, các loại tôm chất lượng đa
dạng: từ cấp thấp, cao cấp đến đặc biệt ,phù hợp khả năng tài chính của các tầng
lớp dân cư.
Bên cạnh đó cũng phải chú ý tới mặt hàng tôm nhập khẩu, bởi càng ngày
người dân càng trở lên “sính ngoại” , chúng ta cần có cách thức quản lí để người
dân nhận ra rằng: Mặt hàng tôm của ta chất lượng không kém mà giá cả lại hợp lí,
không những thế lại dược xuất khẩu sang những thị trường rộng lớn như EU, Mỹ,
Nhật bản.
Tóm lại chúng ta cần ổn định thị trường nội địa của các mặt hàng thủy sản nói
chung và của mặt hàng tôm nói riêng để tạo điều kiện cho xuất khẩu thủy sản phát
triển bên vững.
2.Trên thị trường quốc tế:
Trong thời gian qua xuất khẩu tôm ở Viêt Nam vào thị trường quốc tế có những
biến động rõ rệt.
Nhất là xuất khẩu vào Mỹ _ thị trường chiếm 23-26% tổng kim ngạch xuất khẩu
thủy sản Việt Nam, tiêu thụ 50% tôm xuất khẩu của Vệt Nam là thị trường tiêu thụ
rộng lớn cho hàng xuất khẩu Việt Nam nó đã góp phần không nhỏ vào việc tăng
kim ngạch xuất khẩu thủy sản.
Nhưng đó là thị trường đầy nguy hiểm . Kỳ đầu 2005 xảy ra vụ kiện tôm giữa
Mỹ và 54 doanh nghiệp Việt Nam đã làm cho mặt hàng tôm trong nước và xuất
khẩu chao đảo, hiện tượng rớt giá và vấn đề uy tín làm đau đầu các nhà cầm
quyền.
Mặc dù sự kiện trên đã được giải quyết ổn thỏa, nhưng nó là bài học kinh nghiệm
cho các doanh nghiệp xuất khẩu tôm của Việt Nam.
Việc Việt Nam ra nhập WTO, bỏ qua hàng rào thuế quan sẽ tạo điều kiện thuận
lợi cho những bước phát triển của mặt hàng xuất khẩu thủy sản. Bên cạnh đó để có
thể cạnh tranh với các thị trường tôm khác trên thế giới buộc các nhà quản lí phải
có những chính sách cụ thể. Đẩy mạnh việc xuất khẩu thủy sản không chỉ về số
lượng mà còn cả chất lựơng.
Trang 5
Để làm được điều đó chúng ta cần nhìn nhận lại thực trạng phát triển của xuất
khẩu thủy sản và xuất khẩu tôm để có những biện pháp cải thiện hữu hiệu nhất.
Trang 6
PHẦN II
THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU TÔM
I.Những thuận lợi và khó khăn của vấn đề đầu vào.

Ngành xuất khẩu thủy sản nói chung và ngành xuất khẩu tôm nói riêng, vấn đề
đầu vào là một điểm quan trọng quyết định đến khối lượng và số lượng xuất khẩu
của thủy sản nước ta. Như vậy chúng ta cần phải nhìn nhận những tác động gây
ảnh hưởng đến nghề nuôi tôm ở đây là gì? Những thuận lợi và khó khăn? Để từ đó
có phương hướng phát triển và biện pháp khắc phục kịp thời.
1.Về thuận lợi:
Được đánh giá và phân loại thành 7 loại thuận lợi chính như sau:
Thứ nhất : Nước ta là một nước có nhiều tiềm năng phát triển thủy sản: là một
quốc gia biển và giàu đất ngập nước với 3 kiểu môi trường nước đặc trưng là ngọt
- lợ và mặn. Đây là chỗ dựa tạo kế sinh nhai cho ngư dân dân đặc biệt thuận lợi
cho việc nuôi trồng, khai thác và chế biến các loại tôm.
Tại hội nghị tổng kết ngành thủy sản năm 2004, thủ tướng chính phủ Phan Văn
Khải đã nhấn mạnh : “Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển thủy sản và cần
phải phát triển thủy sản nhanh hơn , mạnh hơn Mục tiêu cuối cùng của ngành
thủy sản là để phục vụ lợi ích người lao động”.
Thứ hai : Lực lượng lao động ngày càng phát triển và có tâm huyết với nghề.
Trước đây số hộ nuôi tôm rất ítt và tập trung ở một số tỉnh vùng sông nước, bây
giờ nhận thức của mọi người đã được nâng cao, mô hình nuôi tôm sú và một số
loại tôm có giá trị kinh tế cao khác đã được mọi nguời quan tâm. Vì vậy nghề
nuôi tôm phát triển khắp cả nước với qui mô to nhỏ tùy thuộc vào từng hình thức
nuôi trồng.
Thứ ba: Các địa phương đã thay bằng việc thả, nuôi trồng hàng loạt, ban đầu đã
học tập việc duy trì thả giống tôm và một số loài cá kinh tế khác để tái tạo, phát
triển nguồn lợi tạo thu nhập cao.
Trang 7
Thứ tư: Bước đầu đã có sự áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào các hoạt
động: Từ giống tôm đến hoạt động nuôi trồng , khai thác chế biến.
Đánh giá về hoạt động khoa học công nghệ trong phát triển ngành thủy sản phó
thủ tướng Phạm Gia Khiêm trong bài phát biểu truớc hội nghị toàn quốc về khoa
học công nghệ giai đoạn 2001-2005 của ngành thủy sản ngày 28/3/2005 tại Hà Nội
đã nhấn mạnh: “ cùng với việc nuôi trồng thủy sản, ngành ta đã chú y đến việc áp
dụng công nghệ mới , sử dụng vật liệu mới, nâng cao trang thiết bị cho tàu thuyền
đánh cá, tìm hướng đánh bắt thủy sản, đẩy mạnh đánh bắt xa bờ, đánh cá ngừ đại
dương. Việc làm này không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa về mặt an
ninh, quốc phòng bảo vệ chủ quyền đất nước”.
Ngoài ra phó thủ tướng còn đánh giá hoạt động công nghệ trên 3 lĩnh vực sau:
- Công tác điều tra, nghiên cứu cơ bản và đánh giá môi trường.
- Đề tài nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ: tạo gống mới có năng
xuất chất lượng cao và phòng được dịch bệnh.
- Vấn đề đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm trong đánh bắt, chế biến, bảo quản
các sản phẩm thủy sản nhất là các sản phẩm xuất khẩu.
Công tác quản lí khoa học công nghệ của bộ thủy sản đã có nhiều tiến bộ theo chủ
trương hướng mạnh về cơ sở.
Như vậy việc áp dụng khoa học công nghệ là một bước đi lớn mang tính đột phá
trong ngành thủy sản nói chung và xuất khẩu thủy sản nói riêng.
Thứ năm : Được sự hướng dẫn chỉ đạo của chính phủ, công tác tổ chức quản lí và
thanh tra được chú trọng. Nhờ vậy không những khuyến khích được nghề nuôi tôm
phát triển một cách có quy hoạch cụ thể mà còn nâng cao được chất lượng đầu vào
cho mặt hàng tôm xuất khẩu.
Thứ sáu : Cơ sở hạ tầng tốt, hình thức đánh bắt và nuôi trồng đa dạng.
Thứ bẩy : Đa dạng về chủng loại nuôi trồng thủy sản.
Trong đó đối tượng nuôi chủ lực là tôm, chủ yếu là tôm sú va một số nơi nuôi
tôm chân trắng.
Trang 8
Nói đến tôm sú hẳn là rất quen thuộc với mọi người - đó là gống tôm chủ lực ở
hầu hết các khu vực nuôi trồng thủy sản, nó đựợc giới thiệu ở rất nhiều các bài viết.
Vì vậy tôi chỉ đề cập đến giống tôm chân trắng qua đề án nghiên cứu này.
Theo các thông tin chưa chính thức , tôm trắng được đưa vào Thái Lan năm 1999,
quá trình nuôi cho thấy có năng xuất, mặc dù nuôi dưới hình thức nhập giống bất
hợp pháp, sau đó thu hoặc được vận chuyển sang Xingapo bán do nhãn của sản
phẩm tôm trắng chưa có tại Thái Lan . Cho đến năm 2002, cục thủy sản - DOF
chính thức ban hành qui định về nhập khẩu tôm chân trắng.
Về kĩ thuật nuôi tôm chân trắng; quản lí trại giống; quản lí trại nuôi; quản lí cho
ăn; dịch bệnh và ngăn chặn được đề cập rõ trong Tạp chí thủy sản số 4/2005*35
Về các hoạt động nghiên cứu và phát triển nuôi tôm chân trắng đã được DOF lên
kế hoạch như sau:
+Tăng cường công suất sản xuất tôm chân trắng bố mẹ tại địa phương.
+ Thiết lập chương trình cấp giấy chứng nhận cho các trại sản xuất giống.
SPF- giống không mang nguồn bệnh đặc trưng. Đây là chương trình tự nguyện,
các trại giống tư nhân có thể xin giấy chứng nhận SPF.
+Các trại giống tư nhân được phép nhập khẩu tôm chân trắng bố mẹ, phải giữ lại
10% tôm giống tại 1 khu vực riêng để phát triển đàn giống SPF hoặc SPR- giống
kháng được nguồn bệnh đặc trưng.
+Lập chương trình nghiên cứu riêng để phát triển đàn giống SPF hoặc SPR.
+Đánh giá và giám sát môi trường sống của tôm chân trắng tại các vùng duyên hải.
Tôm chân trắng hiện đang được phát triển ở Thái Lan , Mỹ và một số nước
khác. ở Việt Nam giống tôm này mới đang được áp dụng nuôi trồng ở một số khu
vực. Vì vậy đây sẽ là vấn đề mà các nhà quản lí cần phải quan tâm.
2.Về khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi trên làm góp phần tăng sản lượng tôm xuất khẩu nhanh
qua các năm, vấn đề đầu vào của tôm xuất khẩu cũng gặp phải những trở ngại sau:
Một là: Điều kiện khí hậu, môi trường nước ta diễn biến rất thất thường ảnh
hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của các loại tôm. Đặc biệt có thể có nững
biến động lớn làm thiệt hại đến sức người, sức của.
Trang 9
Hai là : Vấn đề sử dụng hóa chất, kháng sinh cấm kỵ làm giảm sút chất lượng của
mặt hàng tôm xuất khẩu. Đây là nguyên nhân một măt do nhận thức còn hạn chế của
các ngư dân họ chỉ biết cái lợi trước mắt của việc tăng năng suất mà không quan
tâm đến tác hại của việc sử dụng không hợp lí các hóa chất, kháng sinh cấm kỵ
trong nuôi trồng thủy sản. Bên cạnh đó là việc quản lí lỏng lẻo của các cấp chính
quyền về vấn đề này. Do đó cần phải quan tâm hơn nữa để đảm bảo chất lượng tôm
không chỉ cho mặt hàng tiêu dùng trong nước mà cho cả mặt hàng xuất khẩu có giá
trị kinh tế lớn.
Ba là : Thiếu nguyên liệu sản xuất ở một số địa phương là khó khăn lớn nhất
mang tính phổ biến ở các địa phương. Tình trạng này bộc lộ trầm trọng nhất ở
khu vực phía bắc và duyên hải miền trung.
Bốn là : Các cộng đồng ven biển nhìn chung còn nghèo, thiếu vốn đầu tư và cơ sơ
hạ tầng sản xuất thủy sản kém: Từ cơ sở ngiên cứu khoa học công nghệ thủy sản,
khu vực bảo tồn biển và bảo tồn thủy sản nội địa, thủy lợi đầu mối, cảng cá và
khu tránh trú bão, hệ thống thông tin quản lí ngành nghề thủy sản. Điều này gây
ảnh hưởng đến chất lượng nuôi trồng, khai thác, chế biến các mặt hàng thủy sản,
từ đó sẽ tác động lớn đến mặt hàng tôm xuất khẩu.
Năm là : Về đánh bắt và khai thác còn nhiều bất cập: mức độ khai thác chưa hợp
lí, phương tiện khai thác chưa đảm bảo.
Sáu là : Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lí đầu tư xây dựng vừa yếu vừa thiếu,
chưa đủ điều kiện năng lực theo qui định, tất cả các chủ đầu tư đều kiêm nhiệm ;
quá trình đầu tư từ chủ trương đến quản lí xây dựng, quyết toán công trình đều
thụ động. Chất lượng các tư vấn dự án khả thi, thiết kế lập tổng dự án còn hạn
chế.
Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng được đánh giá trong năm 2005:
Tổng vốn đầu tư từ ngân sách cho phát triển ngành thủy sản là 578,4 tỉ đồng, trong
đó vốn do bộ trực tiếp quản lí là 172 tỉ đòng. Các dự án do bộ trực tiếp quản lí đã
Trang 10
hoàn thành khối lượng ước đạt 114810 triệu đồng, chỉ bằng khoảng 66,75% kế
hoạch, giải ngân khoảng 74,441 triệu đồng, bằng khoảng 43,45% kế hoạch.
Vậy những khó khăn trên cần phải có biện pháp khắc phục kịp thời chúng ta
cùng đề cập đến phần ba của đề án này.
3. Thực trạng của vấn đề đầu vào:
3.1.Thực trạng về nuôi trồng thủy sản:
Hiện nay, các loài chủ lực như tôm sú, tôm càng xanh được tiếp tục tập trung
nghiên cứu hoàn thiện theo hướng sản xuất giống chất lượng cao, sạch bệnh, đồng
thời mở rộng chuyển giao công nghệ sản xuất giống cho các địa phương, khuyến
khích phát triển trại giống tập trung. Kết quả là công nghệ sản xuất tôm sú đã được
mở rộng áp dụng từ Nam trung bộ ra Nam bộ và Bắc bộ. Riêng về tôm sú năm 2003
đạt trên 20 tỉ giống- đây là yếu tố quyết định mở ra hướng phát triển mạnh mẽ về
nghề nuôi tôm sú ở các địa phương ven biển, phục vụ nuôi trồng tập trung , qui mô,
năng suất cao. Đến năm 2004, với hơn 5000 tại giống trong cả nước, đã sản xuất
gần 26 tỉ tôm giống PL15, góp phần làm nên con số sản lượng tôm nuôi trên
290.000 tấn, tăng 22% cả về giá trị và sản lượng so với năm trước.
Mạng lưới trên 50 trại giống tôm càng xanh ở Nam Bộ sản xuất khoảng 60 triệu
giống phục vụ đủ nhu cầu giống của khu vực và hỗ trợ cung cấp cho các địa phương
khác. Đảm bảo chủ động giống lớn, chất lượng được cải thiện tạo điều kiện hình
thành và phát triển sản xuất thủy sản tập trung quy mô lớn, nâng cao hiệu quả kinh
tế xã hội, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế góp phần mở
rộng thị trường và nâng cao giá trị sản lượng xuất khẩu thủy sản.
Thành công lớn trong nuôi trồng thủy sản nữa là đã ứng dụng các tiến bộ kĩ thuật
sinh học phân tử trong phòng và trị bệnh nguy hiểm đối với các loại tôm cá, sử dụng
các chế phẩm sinh học nhằm tăng khả năng chống chịu bệnh và quản lí chất lượng.
Về nuôi tôm nước lợ, diện tích năm 1999 là 210.448 ha so với năm 2005 là
604.479 ha
với mức tăng trưởng bình quân hàng năm là 31,2% đây là tốc độ tăng trưởng rất cao
do vấn đề mở rộng diện tích gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại. Đối với nuôi tôm
nước lợ – mặn, sản lượng năm 1999 là 63.644 tấn. Song dưới tác dụng của mở rộng
diện tích và tăng cường đầu tư khoa học kĩ thuật và vốn, sản luợng nuôi trông đã đạt
Trang 11
324.680 tấn gấp 5,1 lần đem lại hiệu quả kinh tế cao. Các tỉnh Nam Trung Bộ thì
diện tích nuôi tôm hùm lồng phát triển mạnh và bước đầu được nuôi tại Quảng Ninh
với kết quả đạt được là từ 7.290 (1999) với tổng sản lượng là 425 tấn tăng lên
43.510 lồng với sản lượng là 4.800 tấn và đã chủ động được giống với 3.061 lồng
ươm giống, nuôi tôm hùm là hình thức nuôi có vốn đầu tư lớn và mang lại hiệu quả
cao nên một số doanh nghiệp và cá nhân nuôi tôm hùm đã thành công nhanh chóng
với mức doanh thu hàng năm hàng tỷ đồng và có những hộ sau khi trừ chi phí vẫn
còn đạt lợi nhuận tiền tỷ – Tôm càng xanh năm 2005 ước đạt 6.400 tấn trong đó tập
trung tại các tỉnh Tây Nam Bộ, các tỉnh này có sản lượng là 6.612 tấn (93,9%) thu
lợi từ 50 – 80 triệu đồng/ha và năng xuất theo khảo sát tại huyện Cao Lãnh, Tam
Nông thì năng suất trung bình đạt từ 1,2 – 2 tấn/ha và cá biệt có những xã năng suất
đạt 2,5 tấn/ha và diện tích nuôi tôm càng xanh trong những năm tiếp theo thì có thể
tăng lên nhiều và năng xuất tiếp tục tăng với tốc độ cao do trình độ người nuôi trồng
và khả năng áp dụng khoa học kĩ thuật ngày càng mạnh và có hiệu quả.
Bảng: Sản lượng tôm nuôi trồng so với tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng
Trang 12
( Nguồn tổng hợp từ tổng cục thống kê năm 2004 - 2005)
Trang 13
Chỉ tiêu
Sản lượng (tấn)
2001 2002 2003 2004 2005
Cá 421.019,0 486.420,7 604.401,0 761.600,0 933.500,0
Tôm 154.911,0 186.215,6 237.880,0 281.800,0 330.200,0
Thủy sản
khác 133.960,2 172.173,4 160.814,0 159.100,0 173.700,0
Tổng số 709.891,0 844.809,6 1.003.095,0 1.202.500,0 1.437.400,0

Cơ cấu sản lượng (%)
Cá 59,3 57,6 60,3 63,3 64,9
Tôm 21,8 22 23,7 23,4 13,5
Thủy sản khác 18,9 20,4 16 13,3 12
Tổng số 100 100 100 100 100
0
5
10
15
20
25
21,8%
22%
23,7%
23,4%
13,5%
2001 2002 2003 2004 2005
Năm
%

Biểu đồ cơ cấu sản lượng tôm nuôi trồng so với tổng sản lượng thuỷ sản nuôi
trồng.

3.2.Thực trạng về chất lượng các loại tôm:
Đề cập đến vấn đề chất lượng thúy sản. Ông Bửu Huy- giám đốc công ty Afiex ở
An Giang khẳng định: “Thực chất khó khăn lớn nhất của xuất khẩu thủy sản Việt
Nam nói chung là vấn đề chất lượng chứ không phải chuyện phá giá hay không có
thị trường”.
Tình hình phát triển “quá nóng” không kiểm soát được diện tích, sản lượng của
tôm cá đã dẫn đến những yếu kém về quản lí chất lượng. Tỷ lệ nhiễm dư lượng
kháng sinh, hóa chất bị cấm trong cá nuôi khá cao, tình trạng bơm hóa chất vào tôm
chưa được xử lí một cách triệt để, khả năng đảm bảo truy xuất nguồn gốc sản phẩm
kém do diện tích nuôi còn manh mún, trình độ sản xuất chưa đồng đều đã dẫn đến
những bất lợi cho cả hai sản phẩm chủ lực của thủy sản Việt Nam trước các rào cản
“kĩ thuật” của các nước cạnh tranh.
Trong chương trình của VASEP- Đại hội nhiệm kì ba (2005-2001) diễn ra ngày
12/6/2005 ông Hồ Quốc Lựu phát biểu : “Tính an toàn sản phẩm đã trở thành yếu tố
cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu nói chung, từng doanh nghiệp nói riêng. Tôi
nghĩ, những bài học xương máu đã qua và hiện nay xung quanh vấn đề chất lượng
đã nói lên rằng, nếu không có sự liên kết thật sự thì thủy sản Việt Nam sẽ còn tiếp
tục bị trả giá, không chỉ về kinh tế mà còn cả về môi trường”.
Thực tế đã chứng minh được ảnh hưởng mạnh mẽ của vấn đề chất lượng của thủy
sản đến khả năng cạnh tranh của xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Năm 2002 một số lô
hàng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu vào EU không được an toàn (nhiễm khuẩn,
nhiễm bẩn ) và chất lượng chưa ổn định; Vì thế EU đã có qui định mới cho Việt
Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét