TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA KINH TẾ-QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CHUYÊN ĐỀ
HOẠCH ĐỊNH VÀ TIẾN HÀNH THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC
KINH DOANH TRONG NGÂN HÀNG
GIẢNG VIÊN:NGUYỄN THỊ CẨM TUYỀN
Cần thơ,11-2010
DANH S ÁCH NH ÓM
THÀNH VIÊN NHÓM 19 MSSV
Trần Văn Cảnh 0854020027
Nguyễn Chí Cường 0854020036
Nguyễn Văn Cường 0854020038
Nguyễn Thanh Liêm 0854020165
Dương Thị Cẩm Hường 0854020137
Nguyễn Thị Như Kim 0854020164
HOẠCH ĐỊNH VÀ TIẾN HÀNH THỰC HIỆN CHIẾN
LƯỢC KINH DOANH TRONG NGÂN HÀNG
I. NỘI DUNG CỦA KẾ HOẠCH THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC
1. Khái niệm kế hoạch chiến lược
- Hoạch định là một quá trình ấn định những mục tiêu và xác định biện pháp tốt nhất để thực hiện
những mục tiêu đó.
- Hoạch định là quá trình xem xét quá khứ, quyết định trong hiện tại những vấn đề trong tương lai.
2.Nhệm vụ của kế hoạch chiến lược
Một sứ mệnh kinh doanh đúng chuẩn trước
tiên là định hướng về khách hàng vì theo lập
luận hoàn toàn hợp lý chính khách hàng là
người xác định sự tồn tại của ngân hàng vì chỉ
có họ mới là người sẵn sàng trả tiền cho ngân
hàng về những dịch vụ mà ngân hàng cung
ứng. Sự thành bại của khách hàng sẽ ảnh
hưởng đến hiệu quả kinh doanh của ngân
hàng. Điều này cũng phụ thuộc vào khả năng
kiểm soát và khả năng suy trì chặt chẽ với
khách hàng.
Nói về khía cạnh thực tiễn thì sứ mệnh kinh
doanh của ngân hàng cần được thực hiện
thành văn bản. Tùy thuộc vào mỗi ngân hàng,
sứ mệnh kinh doanh của ngân hàng có thể
khác nhau về độ dài, nội dung, kích cỡ, nét đặc trưng riêng biệt. Tuy nhiên, vẫn có một cấu trúc khuôn
mẫu để làm rõ hơn cơ sở cho các ngân hàng dựa vào đó để viết bản sứ mệnh kinh doanh cho
mình.Hầu hết các chuyên gia chiến lược cho rằng khi viết văn bản này cần quan tâm đến và lựa chọn
thích hợp trong các đặc trưng sau đây như là những thành phần quan trọng:
- Khách hàng
- Dịch vụ
- Công nghệ
- Vị trí ngân hàng trong kinh doanh
- Thị trường
- Mối quan tầm đến nhân sự
- Lợi thế cạnh tranh của ngân hàng
Tóm lại, các tiêu chuẩn trên được xem như là một các khung sườn để viết lên sứ mệnh kinh doanh có
các ngân hàng và ngân hàng sẽ đạt được ý nghĩa cao hơn nếu sứ mệnh kinh doanh được thể hiện rõ
ràng, gây ấn tượng và được truyền đạt một cách hiệu quả đến các nhà làm chiến lược, các nhà quản trị
và nhân viên của ngân hàng.
3.Những mục tiêu của chiến lược
Những mục tiêu của chiến lược kinh doanh được xác định như là một thành quả mà ngân hàng cần
đạt được khi thực hiện chiên lược của mình trong thời kỳ hoạt động kinh doanh lâu dài của ngân
hàng. Những mục tiêu dài hạn cũng chính là những nguyên nhân tác động đến sự thành công của ngân
hàng.
Yêu cầu để xác định mục tiêu:
- Tính cụ thể: Mục tiêu đúng là mục tiêu cụ thể, thể hiện kết quả cụ thể cuối cùng cần đạt được khi
tiến hành những hành động nhất định. Nó chỉ rõ mục tiêu liên quan đến vấn đề nào, giới hạn về thời
gian và không gian thực hiện. Mục tiêu càng cụ thể thì càng dễ hoạch định phương hướng, giải pháp
chiến lược để thực hiện mục tiêu đó. Thông thường các mục tiêu ở cấp hội sở sẽ mang tính tổng quát
cao, còn các mục tiêu ở cấp chi nhánh, cấp vùng, cấp chức năng hay ở các công ty trực thuộc thì sẽ cụ
thể, chi tiết hơn.
- Tính nhất quán: Các mục tiêu thường không nhất quán và có mối quan hệ trái ngược nhau, như lợi
nhuận trước mắt thường ngược với tăng trưởng lâu dài, nới lỏng tín dụng thường làm tăng rủi ro tín
dụng Do đó, khi xác định mục tiêu chiến lược phải luôn chú ý đảm bảo sao cho chúng nhất quán với
nhau. Điều này có nghĩa là nó phải phù hợp và đồng bộ với nhau, nhất là việc hoàn thành mục tiêu này
không cản trở việc hoàn thành mục tiêu khác. Kinh nghiệm thực tế cho thấy: việc phân cấp mục tiêu
theo thứ tự ưu tiên, đưa ra các phương án tùy chọn nhằm dung hòa mâu thuẫn là cách khả khá tốt để
giảm thiểu các mâu thuẫn tiềm năng.
- Tính đo lường: Tính chất có liên quan đến tính cụ thể của mục tiêu, có nghĩa là một mục tiêu càng
cụ thể thì càng phải thể hiện rõ ở khả năng đo lường được. Do đó, các mục tiêu nên được đưa ra dưới
dạng các chỉ tiêu thể hiện bằng con số tuyệt đối hay tường đối. Chẳng hạn, khả năng cạnh tranh được
đo lường bởi thị phần chiếm lĩnh trên thị trường, khả năng mở rộng thị trường về phương diện địa lý
được đo lường liên quan chặt chẽ đến việc xác lập các tiêu chuẩn kiểm tra, đánh giá kết quả kinh
doanh
- Tính khả thi: Các mục tiêu được đặt ra phải khả thi trên phương diện thực hiện. Điều này có nghĩa
là nó phải phản ánh được nguyện vọng và phù ợp với khả năng của ngân hàng. Những mục tiêu này
phải là kết quả tổng thể của những hoạt động mà ngân hàng có thể thực hiện trong môi trường mà nó
hoạt động trên thực tế chứ không phải là một thị trường giả sử.
- Tinh thách thức: Nội dung các mục tiêu phải có tính thách thức trên cở sở hy vọng cao để các nhà
quản trị và nhân viên ngân hàng thực sự nỗ lực phấn đấu thực hiện và hoàn thành. Điều này sẽ tạo một
tiền lệ tốt để mọi người luôn tìm tòi, phát huy sáng kiến để đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên, ngân hàng đặt
ra các mục tiêu quá cao, không sát thực tế hay khó có thể đạt được thì nó trở nên phản tác dụng vì nó
khiến mọi người chán nản, mất lòng tin vào chiến lược trở nên chỉ là ảo vọng không có khả năng thực
hiện.
- Tính linh hoạt: Các mục tiêu kinh doanh được đặt ra trong môi trường kinh doanh trong tương lai.
Do đó, các mục tiêu được xây dựng phải có tính linh hoạt hay phải có khả năng điều chỉnh cho phù
hợp với các nguy cơ và cơ hội xảy ra trong môi trường kinh doanh thực tế. Tuy nhiên, ngân hàng cần
lưu ý rằng việc thay đổi và điều chỉnh quá thường xuyên sẽ dẫn đến sự rối loạn trong chiến lược,
chính sách và các chương trình hoạt động.
4. Phân tích môi trường và xác định cơ hội nguy cơ
Môi trường kinh doanh bên ngoài
Môi trường kinh doanh của ngân hàng là hoàn cảnh trong đó ngân hàng hoạt động và tiến hành các
nghiệp vụ kinh doanh và bị ảnh hưởng chi phối bởi hoàn cảnh này. Trong trường kinh doanh của ngân
hàng có thể được mô tả bằng hàng loạt yếu tố được xem như những tác đồng từ bên ngoài tới các hoạt
động kinh doanh của các tổ chức ngân hàng. Phần lớn, trong các yếu tố đó và tác động của chúng
thường mang tính khách quan và ngân hàng khó kiểm soát được và có thể thích nghi với chúng. Môi
trường kinh doanh bên ngoài có thể phân tích thành cấp độ môi trường vi mô và mối trường vĩ mô. Sự
phân chia này có ý nghĩa tạo thuận lợi cho việc nhận rõ sự quan trọng của các yếu tố có mức độ tác
động khác nhau để hoạt động của ngân hàng.
- Yếu tố kinh tế: Đây là các yếu tố tác động bởi các giai đoạn chu kỳ kinh tế, tỷ lệ lạm phát, tốc độ
tăng trưởng của GDP, triển vọng các ngành nghề kinh danh sử dụng vốn ngân hàng, cơ cấu chuyển
dịch giữa các khu vực kinh tế, mức độ ổn định giá cả, lãi suất, cán cân thanh toán và ngoại thương
- Yếu tố chính trị, pháp luật và chính sách của Nhà nước: Ngân hàng là hoạt động được kiểm soát
chặt chẽ về phương diện pháp luật hơn so với các ngành khác. Các chính sách tác động đến hoạt động
động kinh doanh của ngân hàng như chính sách cạnh tranh, phá sản, sát nhập, cơ cấu và tổ chức ngân
hàng, các quy định về cho vay, bảo hiểm tiền gửi, dự phòng rủi ro tín dụng, quy định về quy mô vốn
tự có được quy định trong luật ngân hàng và các quy định hướng dẫn thi hành luật. Ngoài ra, các
chính sách tiền tệ, chính sách tài chính, thuế, tỷ giá, quản lý nợ của Nhà nước và các cơ quan quản lý
hữu quan như ngân hàng Trung ường, Bộ tài chính cung thường xuyên tác động vào hoạt động của
ngân hàng.
- Yếu tố môi trường văn hóa xã hội: Những vấn đề mang tính lâu dài và ít thay đổi, có giá trị lớn
trong phân tích chiến lược như văn hoá tiêu dùng, thói quen sử dụng các dịch vụ ngân hàng trong đời
sống, tập quán tiết kiệm, đầu tư, ứng xử trong quan hệ giao tiếp, kỳ vọng cuộc sống, cộng đồng tốn
giáo, sắc tộc, xu hướng về lao động.
- Yếu tố công nghệ: Sự thay đổi nhành chóng của công nghệ thông tin trở thành bức phá trong cạnh
tranh của ngành ngân hàng.
- Yếu tố dân số: Đó là các yếu tố về cơ cấu dân số theo đột tuổi, giới tính, thu nhập, mức sống, Tỷ
lệ tăng dân số, quy mô dân số, khả năng dịch chuyển dân số giữa các khu vực kinh tế, giữa thành thị
và nông thôn.
- Yêu tố tự nhiên: Sự khan hiếm các nguồn tài nguyên, khả năng sản xuất hàng hoá trên các vùng tự
nhiên khác nhau, vấn đề ô nhiễm môi trường, thiếu năng lượng hay lãng phí tài nguyên thiên nhiên có
thể ảnh hưởng đến quyết định đầu tư cho vay của ngân hàng.
- Yếu tố quốc tế: Do xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế dẫn đến sự hội nhập giữa các nền kinh tế
trong khu vực hay toàn cẩu. Do đó, cần phải theo dõi và nắm bắt xu hướng kinh tế thế giới, phát hiện
các thị trường tiềm năng, tìm hiểu các diễn biến về chính trị và kinh tế theo những thông tin về công
nghệ mới, các kinh nghiệm về kinh doanh quốc tế.
- Các đối thủ cạnh tranh đang hoạt động: Các đối thủ ngân hàng này đang tranh đua và dùng các thủ
thuật để tăng lợi thế cạnh tranh, xâm chiếm thị phần của nhau. Những đối thủ đó là các ngân hàng
thương mại, các công ty bảo hiểm, công ty tài chính, quỹ hỗ trợ Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào số
lượng và quy mô các định chế tham gia thị trường.
- Khách hàng: Là nhân tố quyết định sự sống còn của các ngân hàng trong môi trường cạnh tranh.
Khách hàng của ngân hàng không có sự đồng nhất và họ vừa có thể là người gửi tiền - cung cấp nguồn
vốn vằ là người vay vốn - sử dụng vốn của ngân hàng, và sử dụng các dịch vụ tài chính khác của ngân
hàng.
- Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn: Các định chế tài chính và phi tài chính có thể xâm nhập lẫn nhau
về các dịch vụ cung ứng cho khách hàng. Ngoài các đối thủ cạnh tranh hiện có cần phải lưu ý các đối
thủ tiềm ẩn trong tương lai như các công ty bảo hiểm, và các tổ chức tài chính khác.
5.Phân tích môi trường bên trong và các điểm mạnh điểm yếu của ngân hàng
Môi trường bên trong
- Môi trường bên trong hay là phân tích các điều kiện, nguồn lực thực tại của ngân hàng. Các hệ
thống bên trong ngân hàng có được hay có thể huy động và kiểm soát được để đưa vào hoạt động kinh
doanh. Khái niềm về nguồn lực bao gồm có nhiều loại yếu tố khác nhau: Nguồn nhân lực, vật chất, kỹ
thuật, bộ máy tổ chức, các chính sách dịch vụ, tài chính, marketing Ngân hàng cần phải nỗ lực để
phân tích một cách cẩn thận các yếu tố nguồn lực nhằm xác định đúng đắn các điểm mạnh, điểm yếu
trên cơ sở đó phải tìm cách tận dụng các điểm mạnh, loại bỏ những điểm yếu để đạt lợi thế tối đa
trong chiến lược
- Yếu tố marketing: Là những yếu tố liên quan đến nghiên cứu thị trường khách hàng và hệ thống
thông tin marketing. Vị thế cạnh tranh trên thị trường, xác định khách hàng mục tiêu, đa dạng hoá về
sản phẩm và dịch vụ ngân hàng, giá cả của ngân hàng (lãi suất)
- Yếu tố về nhân lực: Chất lượng bộ máy lãnh đạo và các quản trị viên, trình độ chuyển môn, giao
tiếp, tinh thần trách nhiệm, sự nhiệt tình, đạo đức nghề nghiệp của lực lượng nhân viên, không khí nơi
làm việc, chính sách tuyển dụng nhân viên, kinh nghiệm và tính năng động của nhân viên , tất cả là
những yếu tố tạo thế mạnh cho ngân hàng.
- Yếu tố tài chính: Khả năng huy động vốn tiền gửi và vay mượn trên các thị trường tài chính, nguồn
vốn tự có, khả năng thanh toán, cơ cấu tài sản sinh lời, quy mô tài chính, và khả năng tạo lợi nhuận
của ngân hàng , phản ảnh lợi thế của ngân hàng so với các ngân hàng đối thủ.
- Yếu tố cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ: Vị trí của ngân hàng, chi nhánh, phòng giao dịch của ngân
hàng ở vị thế thuận lợi, thiết bị hiện đại để phục vụ khách hàng tiện lợi và nhanh chóng, trình độ công
nghệ hiện đại của ngân hàng
Xác định điểm mạnh, điểm yếu: Phân tích cẩn thận và lập bảng tổng kết các yếu tố nguồn lực theo
tầm quan trọng cho phép ngân hàng phát hiện ra các điểm mạnh, điểm yếu quan trọng làm cơ sở cho
phân tích các ma trận chiến lược. Về phương diện kỹ thuật nên phân hạng các điểm mạnh, điểm yếu
theo phương pháp thích hợp để nhận định. Điều này có nghĩa trong phân tích chiến lược là khi cân
nhắc các ưu tiên như lựa chọn chiến lược là theo đuổi các chiến lược phải tận dụng các điểm mạnh và
lấy để bù đắp yếu hay cải thiện các điểm yếu.
6.Xác định chiến lược kinh doanh
Xây dựng chiến lược kinh doanh
- Nhiệm vụ cơ bản của quá trình thiết lập chiến lược
là:
+Đề xuất phương án chiến lược kinh doanh tiềm
năng
+Phân tích lưa chọn các phương ánđẻ tìm ra chiến
lược kinh doanh khả thi
+Ra quyết định chiến lược kinh doanh
6.1/Đưa ra chiến lược thay thế
-việc đưa ra những chiến lược thay thế là việc xem
xét lại tính hợp lý hay tinh đúng đắng của các mục
tiêu chiến lược đã chọn trước từ đó đề xuất những
phương án nhằm thực hiện chiến lược kinh doanh của ngân hàng
6.1.1/Nhóm chiến lược tăng trưởng
-Chiến lược tăng trưởng tập trung:là chiến lược đặt trọng tâm vào việc cải tiến các chiến dịch tài
chính mới để tạo ra cơ sở thị trường mới hay đi vào các lĩnh vực phi tài chính khác. Chiên lược này
đồi hỏi phải mowrrongo quy mô nguồn lực và kiến thức về nhiều lĩnh vực ngành nghề.
6.1.2/Chiến lược tăng trưởng mở rộng
- Ngân hàng có thể xây dựng các chiên lược bằng cách mở rộng ra thi trường
- Chiến lược sáp nhập: là tiến hành hợp nhất với một ngân hàng khác tạo thành ngân hàng mới về
tên,phát hành cổ phiếu mới, cơ cấu tổ chức mới và nhiều thay đổi. Do xu hướng cạnh tranh trên toàn
cầu về vấn đề sáp nhập trở thnahf một trào lưu hiện nay.
- Chiến lược chuyển nhượng lại: là một ngân hàng mua lại một
ngân hàng khác bằng con đường mua lại cổ phần để nắm giữ quyền
kiểm soát của ngân hàng đó là nắm giữ cơ cấu tổ chức của ngân hàng.
- Chiến lược kinh doanh:là chiến lược của hai hay nhiều ngân hàng
hợp lại để thực hiện một vấn đề mà vấn đề đó thì một ngân hàng
không đủ khả năng để thực hiên được và khngo liên quan đế quyền sở
hữu của chúng.
6.2/Nhóm chiến lược thu hẹp hoạt động
Khi cần thu hẹp để sắp xếp lại qui mô hoạt động thích hợp nhằ
tăng hiệu quả kinh doanh trong điều kiện kinh tế không ổn định. Gồm có các chiến lược sau:
-Cắt giảm chi phí:chiến lược này chỉ mang tính tam thời để sắp xếp lại hoạt động kinh doanh có
hiệu quả hơn.
-Cắt giảm một số lĩnh vực kinh doanh: chiến lược này thực hiện theo khuynh hướng nhượng bán
hoặc là đóng cửa một cơ sở kinh doanh trực thuộc với mục đích thu hồi vốn dầu tư ở những bộ phận
,cơ sở kinh doanh có khả năng sinh lời để tập trung vốn cho các hoạt động ,lĩnh vực,cơ sở có sức sinh
lợi caovà có triển vọng trong tương lai.
-Giải thể: là chiến lược bắt buộc cuối cùng, để kết thuc quá trình hoạt động kinh doanh và chỉ trả
tiên gửi cho ngân hàng và các khoảng nợ.
7.Lựa chọn chiến lược cho sự tiến hành thay đổi
-Việc xem xét để đả bảo tính tối ưu trước khi ra quyết định lựa chọn chiến lược nào đó thì ngân
hàng xe xét cân nhắc trên cơ sở:
+ Tận dung tối đa ưu thế của ngân hàng
+ Phù hợp với mục đích lâu dài
+phù hợp với hkhar năng tài chính và chuyên môn của ngân hàng
+ Thái độ và quan điểm của lãnh đạo ngân hàng, đặc biệt là quan điểm đối với rủ ro
+Tận dụng được các nguồn tài trợ từ bên ngoài
+Xác định thời điểm thực hiện chiến lược.
8. Xác định kết quả kinh doanh
Kết quả tài chính mà đơn vị đã thấy trước được
như:doanh thu, lợi nhuận của từng đơn vị
Bảng kế hoạch cần được phát triển cho từng đơn
vị củangân hàng, cấu trúc tổ chức của ngân hàng có
thể ảnh hưởng đến trách nhiệm cho sự tiến hành làm
thay đổi chiến lược thị trường.Cấu trúc tổ chức là
một yếu tố dưới sự kiểm soát quản, nó thật sự trở
thành một yếu tố cơ bản cho sự khác biệt giữa
các ngân hàng
Lúc này ngân hàng sẽ đánh giá và kết luận lại các
chiến lược đã đưa ra ở trên để trọn chiến lược
phù hợp với ngân hàng nhằm đạt được mục tiêu của ngân hàng.
II.QÚA TRÌNH LẬP KẾ HOẠCH CỦA NGÂN HÀNG
1.Khái niệm quá trình lập kế hoạch
Ở cấp độ ngân hàng,quá trình lập kế hoạch chiến lược bắt đầu với sự đánh giá nhiêm vụ và muc
tiêu,nó lam cho phù hợp với cơ hội và cac nguồn lực.
Ở cấp độ bộ phận lá sự ư tiên thị trường hiện tai,các muc tiêu và chiến lược đánh và sánh với chiến
lược chung ngân hàng và chọn lựa để phát hiện một chiến lược ngân hàng phối hợp.
Sơ đồ: quá trình lập kế hoạch ngân hàng
Mỗi tổ chức đều có sứ mệnh hoặc lý do cho sự tồn tại. Nó chỉ thay đổi rất là chậm và có tác động
chính trên gì mà tổ chức chọn để làm hoặc không làm và nó quyết định hành động cách nào.
2.Đề ra mục tiêu
Căn cứ vào nhiệm vụ vụ tổng quát để đề ra mục tiêu như
- Môi trường bên ngoài
- Những cản trở phải gánh chịu
- Nguồn lực nội bộ
- Cổ đông bên ngoài
- Đảm bảo tính liên tục và kế thừa.
- Phải rõ ràng bằng các chỉ tiêu định lượng là chủ yếu.
- Phải tiên tiến để thể hiện được sự phấn đấu của các thành viên.
- Xác định rõ thời gian thực hiện.
- Trong việc đánh giá mục tiêu của ngân hàng và địa vị hoạt động thì cực kì quan trọng để kiểm tra
rằng chúng tồn tại bên trong và sự hoàn thành bên ngoài và có sự thành công của cái khác.
Sơ đồ: Mối quan hệ giữa sứ mệnh và mục tiêu
3.Xác định thị trường:
Định nghĩa thị trường: thị trường là nơi gặp gỡ giao lưu giữa khách hàng và ngân hang, nơi mà
ngân hàng đáp hay cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ cho khách hàng.
Sơ đồ : Quá trình của sự phát triển chiến lược
Để
phan
chia
được thị
trường thì
ngân
hang
cần trả lời
tốt các
câu hỏi
sau:
- Khách hàng chính xác là ai?
- Họ cần gì?
- Sản phẩm và dịch vụ của NH có đáp ứng những nhu cầu của khách hàng không?
- NH có thể cung cấp những nhu cầu nầy một cách có hiệu quả, có lợi nhuận ở một mức độ rủi ro
có thể chấp nhận được không?
- Những nguồn lực gì NH cần để phân phối những dịch vụ này?
- NH sẽ quản trị những nguồn lực đó như thế nào?
Phân chia thị trường: Những yếu tố chủ yếu để cho việc phân chịa thị trường gồm:
- Doanh thu:doanh thu cho thấy một chỉ tiêu về qui mô của hoạt động kinh doanh có thể có được
nhiều của sản phẩm.Doanh thu cũng là một chỉ tiêu quan trọng khi được sử dụng trong mối quan hệ
giữa các ngân hàng.
- Vùng địa lý
- Phân loại ngành:giúp ngân hàng nghiêm cứu về nhu cầu tài chính cựu thể của từng ngành để
đáp ứng nhu cầu
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét