Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở Công
ty Cổ phần Xây dựng - Thương mại và Dịch vụ văn hóa
- Tổng số công nhân viên bình quân: 125 người
1.1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần
Xây dựng - Thương mại và Dịch vụ văn hoá:
Công ty Cổ phần Xây dựng – Thương mại và Dịch vụ văn hoá thực hiện
chế độ tự chủ sản xuất kinh doanh theo phương thức hạch toán kinh tế độc lập, tự
chủ để trang trải về tài chính. Công ty là một Doanh nghiệp XDCB với ngành
nghề chính là xây dựng, cải tạo sửa chữa các công trình phát triển hạ tầng, văn
hoá, các công trình phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị, hoàn thiện nội thất, ngoại
thất, sản xuất kinh doanh vật liệu, dụng cụ, vật tư xây dựng, do đó, đặc điểm sản
xuất của Công ty là:
- Thời gian thi công kéo dài, giá trị công trình lớn, sản phẩm đơn chiếc và được
xây dựng theo đơn đặt hàng.
- Thiết bị thi công không cố định một chỗ mà phải di chuyển liên tục từ vị trí này
sang vị trí khác dẫn đến việc quản lý rất phức tạp.
- Thiết bị thi công đa dạng, ngoài những thiết bị thông thường còn phải có những
thiết bị đặc chủng mới thi công được như: Búa đóng cọc, xà lan, hệ thống phao
cần cẩu, máy trộn bê tông, máy trộn vữa, máy phát điện dự phòng
Do sản phẩm của công ty được sản xuất theo đơn đặt hàng do đó quá trình
sản xuất sản được tiến hành theo công đoạn bao gồm các bước được thể hiện qua
sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
Nguyễn Thanh Nga – Lớp Kế toán định kỳ- K36 - ĐHKTQD
Lập dự toán công trình.
Lập kế hoạch sản xuất,
kế hoạch mua sắm
Bước 1: Chuẩn bị
sản xuất.
Quá trình thi công tiến
hành theo công đoạn,
điểm dừng kỹ thuật,
mỗi lần kết thúc một
Bước 2: Khởi công
xây dựng.
55
Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở Công
ty Cổ phần Xây dựng - Thương mại và Dịch vụ văn hóa
Công ty tự đứng ra vay vốn, đấu thầu công trình, nhận thầu xây dựng. Sau khi
ký kết hợp đồng với chủ đầu tư, Công ty tiến hành giao khoán cho các Xí nghiệp
và việc tính lãi dựa trên 3%/ Tổng doanh thu của từng công trình. Tiến độ thi
công công trình đến đâu đều có Biên bản nghiệm thu khối lượng thực hiện. Đến
khi hoàn thành xong công trình các đội phải tiến hành bàn giao và quyết toán.
Do các công trình có địa điểm thi công khác nhau, thời gian thi công khác
nhau, lực lượng lao động của Công ty được chia thành 07 xí nghiệp. Ở mỗi Xí
nghiệp có một Giám đốc (chủ nhiệm công trình), cán bộ kỹ thuật, các công nhân,
kế toán xí nghiệp Các xí nghiệp theo dõi tình hình lao động trong xí nghiệp, lập
bảng chấm công, bảng thanh toán tiền công Các đội hạch toán riêng theo hình
thức báo sổ lên công ty.
1.1.3 Tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty Cổ phần Xây dựng - Thương mại
và Dịch vụ văn hóa
Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất cũng như quy mô sản xuất, Công ty
đã tổ chức bộ máy quản lý một cấp. Bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức
theo mô hình như sau:
Nguyễn Thanh Nga – Lớp Kế toán định kỳ- K36 - ĐHKTQD
Bước 3: Hoàn thiện công
trình bàn giao công trình
cho chủ đầu tư đưa vào sử
66
Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở Công
ty Cổ phần Xây dựng - Thương mại và Dịch vụ văn hóa
Sơ đồ 2: Bộ máy quản lý của Công ty
Nguyễn Thanh Nga – Lớp Kế toán định kỳ- K36 - ĐHKTQD
BAN GIÁM ĐỐC
CÔNG TY
Phòng Tổ chức Hành
chính
Trợ lý
Giám đốc
Phòng Kế
hoạch- Tài
chính
Xưởng Sản
xuất vật liệu
Các công
trường
Các Xí
nghiệp nội
bộ
Tổ chức Lao
động Tiền
lương
Đội Lắp
đặt điện
nước
Hành chính
quản trị
Sản xuất
Mộc
Bảo vệ
Cửa hàng
Giới thiệu
sản phẩm
Văn phòng Chi
nhánh ở địa
Lái xe
77
Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở Công
ty Cổ phần Xây dựng - Thương mại và Dịch vụ văn hóa
Phòng Kế hoạch Tài chính có nhiệm vụ tiến hành tổng hợp toàn bộ chứng
từ, số liệu, thực hiện phân tích các chỉ tiêu kinh tế tài chính. Giúp giám đốc quản
lý công tác tài chính, tổ chức công tác hạch toán kế toán của Công ty.
Phòng Tổ chức Hành chính có nhiệm vụ về công tác kế hoạch hoá sản xuất
và đầu tư xây dựng của toàn công ty. Tổ chức tiếp nhận và thu thập các thông tin
cần thiết khác, dự báo khả năng, nhu cầu thị trường để tham mưu cho Giám đốc.
Tổ chức, sắp xếp hợp lý các bộ phận, đề ra phương án chi trả tiền lương cho cán
bộ công nhân viên Công ty. Theo dõi tổng hợp tình hình hoạt động toàn Công ty,
đôn đốc thực hiện các chủ trương, chỉ thị của cấp trên và Công ty, tham mưu cho
Công ty về công tác pháp chế, tuyên truyền, phụ trách công tác hành chính văn
thư. Đây là một Ban tham mưu giúp việc cho Giám đốc, chịu sự điều hành trực
tiếp của các Phó Giám đốc. Ngoài việc thực hiện chức năng của mình, các phòng
ban cần phải có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm kiểm tra, đối chiếu số liệu
và giúp đỡ nhau hoàn thành công việc được giao.
Các xí nghiệp, các công trường có nhiệm vụ nhận khối lượng giao khoán
của công ty sản xuất thi công tại công trường, nghiệm thu khối lượng hạng mục
công trình.
Các phân xưởng sản xuất có nhiệm vụ quản lý các mặt sản xuất, kĩ thuật,
lao động, thiết bị, dụng cụ đồ nghề nhằm đảm bảo hoàn thành kế hoạch, chịu sự
chỉ đạo của Ban Giám đốc và các phòng ban chức năng.
1.2- ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN XÂY DỰNG- THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ VĂN HOÁ
1.2.1 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán:
Chế độ kế toán áp dụng tại Công ty theo Quyết định số15/2006/QĐ-BTC
ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Chế độ Kế toán
doanh nghiệp và theo Quyết định 1864/QĐ/BXD của Bộ Xây dựng về việc ban
hành Chế độ Kế toán mới áp dụng cho các doanh nghiệp xây lắp.
Niên độ kế toán bắt đầu từ 1/1, kết thúc 31/12.
Nguyễn Thanh Nga – Lớp Kế toán định kỳ- K36 - ĐHKTQD
88
Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở Công
ty Cổ phần Xây dựng - Thương mại và Dịch vụ văn hóa
Đơn vị sử dụng trong ghi chép kế toán: Đồng Việt Nam.
Hệ thống chứng từ được sử dụng tại Công ty phù hợp với chế độ chứng từ
chung. Hệ thống chứng từ này bao gồm các chỉ tiêu: Chỉ tiêu lao động và tiền
lương, chỉ tiêu hàng tồn kho, chỉ tiêu tiền tệ và chỉ tiêu tài sản cố định.
Các chứng từ được sử dụng ở Công ty đều là các chứng từ theo quy định
của Bộ Tài chính như Phiếu nhập kho, Phiếu xuất kho, Hoá đơn Giá trị gia tăng,
Bảng chấm công, Bảng thanh toán lương, Phiếu thu, Phiếu chi, Phiếu đề nghị tạm
ứng….
Hệ thống tài khoản kế toán áp dụng tại Công ty là hệ thống tài khoản áp
dụng trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ như TK 111, TK 112, TK 131, TK 133,
TK 141, TK 152, TK 333, TK 334, TK 411, TK 421, TK 511, TK 621, TK 622,
TK 623,TK 627, TK 911….
Hình thức sổ kế toán được áp dụng tại Công ty là Hình thức Nhật ký – Sổ
Cái.
Đặc trưng cơ bản của hình thức này là các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát
sinh được kết hợp ghi chép theo trình tự thời gian và theo nội dung kinh tế (theo
tài khoản kế toán) trên cùng một quyển sổ kế toán tổng hợp duy nhất là Nhật ký-
Sổ Cái. Căn cứ để ghi vào sổ Nhật ký – Sổ Cái là các chứng từ kế toán hoặc Bảng
tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại.
Các loại sổ kế toán của hình thức Nhật ký – Sổ Cái:
- Nhật ký – Sổ Cái
- Các Sổ, Thẻ kế toán chi tiết
Sơ đồ 3: Mô hình ghi sổ
Nguyễn Thanh Nga – Lớp Kế toán định kỳ- K36 - ĐHKTQD
Chứng từ kế toán
Sổ, thẻ
kế
toán
chi tiết
Bảng
tổng hợp
kế toán
chứng từ
Sổ quỹ
99
Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở Công
ty Cổ phần Xây dựng - Thương mại và Dịch vụ văn hóa
Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu, kiểm tra
Các báo cáo kế toán mà Công ty phải lập theo chế độ gồm:
- Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01- DNN)
- Kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02- DNN)
- Thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu số B09- DNN)
Ngoài ra công ty còn phải lập: Bảng Cân đối tài khoản (Mẫu số F01-DNN) và
Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước (Mẫu số F02-DNN) để
nộp cho cơ quan thuế.
1.2.2 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán
Do đặc thù của ngành Xây dựng, ở Công ty áp dụng Hình thức kế toán tập
trung, toàn bộ công tác kế toán được thực hiện ở Phòng Kế hoạch tài chính của
công ty, từ khâu ghi chép ban đầu đến khâu tổng hợp, báo cáo và kiểm tra kế
toán. Ở các Xí nghiệp sản xuất, nhân viên kế toán đội làm công tác thống kê kế
toán, thu thập số liệu ban đầu, thu nhận chứng từ để cuối tháng nộp về phòng Kế
toán - Tài vụ của Công ty để tiến hành xử lý và ghi sổ kế toán.
Bộ máy kế toán của Công ty chịu sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp của Giám
đốc công ty. Bộ máy kế toán tại Công ty được tổ chức theo sơ đồ sau:
Nguyễn Thanh Nga – Lớp Kế toán định kỳ- K36 - ĐHKTQD
Bảng
tổng
hợp
chi tiết
Nhật ký – Sổ Cái
BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1010
Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở Công
ty Cổ phần Xây dựng - Thương mại và Dịch vụ văn hóa
Sơ đồ 4: Bộ máy kế toán
Phòng Kế hoạch -Tài chính tại Công ty gồm 04 người, phân công công
việc như sau:
Nguyễn Thanh Nga – Lớp Kế toán định kỳ- K36 - ĐHKTQD
Trưởng Phòng
Kế hoạch - Tài
chính
Thủ
quỹ
Kế toán
Tiền lương,
các khoản
trích
Kế
toán
tổng
Nhân viên kế toán
Xí nghiệp
1111
Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở Công
ty Cổ phần Xây dựng - Thương mại và Dịch vụ văn hóa
Kế toán trưởng là người chịu trách nhiệm trước Giám đốc Công ty và các
cơ quan chức năng về toàn bộ công việc của mình cũng như toàn bộ thông tin
cung cấp. Kế toán trưởng có nhiệm vụ theo dõi chung, chịu trách nhiệm hướng
dẫn, tổ chức phân công, kiểm tra các công việc của nhân viên kế toán thực hiện.
Kế toán tổng hợp có nhiệm vụ dựa vào các chứng từ từ các phần hành gửi
đến để vào sổ tổng hợp. Cuối tháng tính ra số tiền phát sinh, số dư đối chiếu với
các sổ chi tiết để làm căn cứ để lập các báo cáo tài chính.
Kế toán tiền lương, BHXH có nhiệm vụ căn cứ vào số lượng lao động,
thời gian, kết quả lao động của các xí nghiệp gửi lên và ở các phòng ban của
Công ty để tính lương và các khoản trích theo lương theo đúng chế độ.
Thủ quỹ có nhiệm vụ hàng ngày phản ánh tình hình thu chi, tồn quỹ tiền
mặt. Thường xuyên đối chiếu tiền mặt tồn quỹ thực tế với sổ sách để phát hiện và
xử lý kịp thời sai sót, đảm bảo định mức tồn quỹ tiền mặt.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN
XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP Ở
CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG- THƯƠNG MẠI VÀ
DỊCH VỤ VĂN HOÁ
2.1. Đối tượng tập hợp chi phí và tính giá thành.
Đặc điểm riêng biệt của ngành XDCB khác với các ngành
khác là quá trình thi công kéo dài, phức tạp, sản phẩm mang
tính chất cố định về mặt không gian, đơn chiếc, mỗi công trình
có một thiết kế riêng. Một công trình được giao khoán cho từng
Xí nghiệp.Vì vậy để đáp ứng yêu cầu của công tác kế toán tập
Nguyễn Thanh Nga – Lớp Kế toán định kỳ- K36 - ĐHKTQD
1212
Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở Công
ty Cổ phần Xây dựng - Thương mại và Dịch vụ văn hóa
hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp, đối
tượng tập hợp chi phí sản xuất của Công ty được xác định là
từng công trình, hạng mục công trình. Hiện nay, Công ty tập
hợp chi phí sản xuất theo phương pháp trực tiếp. Mỗi công
trình từ khi nhận thi công đến khi hoàn thành bàn giao đều mở
sổ riêng để tập hợp chi phí sản xuất thực tế phát sinh và tính
giá thành công trình. Các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi
phí nhân công trực tiếp, chí phí sử dụng máy, chi phí sản xuất
chung phát sinh ở công trình, hạng mục công trình nào thì tập
hợp cho công trình, hạng mục công trình đó.
Tuỳ thuộc vào đặc điểm, quy mô sản xuất, ngành nghề
kinh doanh, yêu cầu và trình độ quản lý… trong mỗi doanh
nghiệp mà xác định đối tượng tính giá thành cho phù hợp với
đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất. Quy trình công
nghệ của XDCB là kiểu quy trình công nghệ khá phức tạp, chi
phí đầu tư cho một công trình rải trong một thời gian dài do
thời gian xây dựng công trình kéo dài nên đối tượng tính giá
thành ở Công ty được xác định là các công trình hoàn thành
bàn giao hoặc từng hạng mục công trình của toàn bộ công
trình, hoàn thành bàn giao cho chủ đầu tư và thực hiện thanh
quyết toán.
Nguyễn Thanh Nga – Lớp Kế toán định kỳ- K36 - ĐHKTQD
1313
Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở Công
ty Cổ phần Xây dựng - Thương mại và Dịch vụ văn hóa
Kỳ tính giá thành Công ty đã chọn là: 6 tháng/1lần, đảm bảo
cung cấp thông tin chính xác về giá thành sản phẩm. Song tuỳ
thuộc vào thời điểm bàn giao công trình, hạng mục công trình
đã được quy định trong hợp đồng mà Công ty có thể thực hiện
kỳ tính giá thành sản phẩm khác nhau.
Để tiện theo dõi công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Xây dựng
– Thương mại và Dịch vụ văn hoá, em xin lấy số liệu thực tế
06 tháng đầu năm 2006 các chi phí phát sinh công trình cải tạo
trục đường chính phố Phúc Tân đoạn từ ngõ 305-383 – Quận
Hoàn Kiếm – Hà Nội do Xí nghiệp 1 nhận khoán. Giám đốc Xí
nghiệp I – chủ nhiệm công trình là ông Phí Quang Đáng. (Thời
gian này Công ty vẫn chưa chuyển sang Công ty cổ phần, vì
vậy tên gọi của Công ty là Công ty Xây dựng và Sửa chữa nhà
cửa- Bộ Văn hoá Thông tin)
Xuất phát từ cơ chế khoán và việc nhận tạm ứng giữa Công
ty và các Xí nghiệp, trong quá trình thi công có những khoản
chi của đội sẽ được tính vào chi phí của công trình, hạng mục
công trình (HMCT) nhưng có những chi phí không được tính
vào chi phí của công trình, HMCT trong kỳ. Vì thế để theo dõi
tình hình thanh toán tạm ứng giữa đội và Công ty, phản ánh
Nguyễn Thanh Nga – Lớp Kế toán định kỳ- K36 - ĐHKTQD
1414
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét