Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

thủ tục hành chính

CHƯƠNG 2: CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH: LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. Tính cấp thiết của việc cải cách thủ tục hành chính
Như chúng ta đã bàn: hệ thống thủ tục hành chính nước ta còn có quá
nhiều tồn tại và bất cập làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung của đất nước.
Thủ tục nặng nề, phiền hà là cơ hội cho nạn tham nhũng, làm giảm lòng tin của
nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Mặt khác, không khuyến
khích sự phát triển kinh tế, nhất là các nhà đầu tư nước ngoài muốn vào nước ta
làm ăn. Sở dĩ như vậy là do thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp, nhiều khâu
nhiều cửa không cần thiết và phù hợp, làm mất nhiều thời gian và chi phí, từ đó
làm nản chí nhà đầu tư.
Với những tồn tại và hạn chế đó, vấn đề cải cách hành chính được đặt ra
cấp thiết. Đó không chỉ là nguyện vọng bức xúc của nhân dân, tổ chức mà còn
là các nhà đầu tư nước ngoài. Bởi nước ta được xem là có tiềm năng và triển
vọng nhưng hệ thống thủ tục hành chính còn lạc hậu, kém sự thông thoáng,
không phù hợp với xu thế phát triển chung của khu vực cũng như của thế giới.
II.2 Các quy định của pháp luật về cải cách thủ tục hành chính
Nhằm khắc phục những bất cập và hạn chế của hệ thống thủ tục hành
chính, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân thì việc cải cách thủ tục hành chính
đã được đặt ra tại nghị quyết 8 khóa VII “ loại bỏ những khâu xin phép xét
duyệt không cần thiết, giảm phiền hà, ngăn chặn tệ cửa quyền sách nhiễu, cửa
quyền tham nhũng, vi phạm pháp luật, lập lại trật tự trong việc ban hành thủ tục
hành chính, quy định lệ phí ” và được cụ thể trong nghị quyết 38/CP ngày
4/8/1994 của Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính trong việc giải quyết
công việc của dân và tổ chức. Lấy cải cách thủ tục hành chính trong 8 lĩnh vực
làm khâu đột phá, bao gồm:
- Thành lập và đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Xuất, nhập khẩu.
- Cấp giấy phép xây dựng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, sở hữu nhà ở tại đô thị.
- Cấp phát vốn ngân sách nhà nước.
- Khiếu nại, tố cáo của công dân.
- Công chứng, hộ tịch và hộ khẩu.
2.2.1. Mục tiêu và yêu cầu cải cách một bước thủ tục hành chính
Mục tiêu và yêu cầu cải cách một bước thủ tục hành chính là phải đạt
được sự chuyển biến căn bản trong quan hệ và thủ tục giải quyết công việc của
dân và tổ chức cụ thể:
- Tiến hành phát hiện và xóa bỏ những thủ tục hành chính thiếu
đồng bộ, chồng chéo rườm rà, phức tạp đã và đang gây trở ngại trong việc tiếp
nhận và xử lý công việc giữa cơ quan Nhà nước với nhau, giữa cơ quan Nhà
nước với công dân và tổ chức, xây dựng và thực hiện được các thủ tục giải
quyết công việc đơn giản, rõ ràng thống nhất đúng pháp luật và công khai, vừa
tạo thuận tiện cho nhân dân và tổ chức có yêu cầu giải quyết công việc, vừa có
5
tác dụng ngăn chặn nạn cửa quyền, sách nhiễu và tham nhungxtrong công chức
nhà nước, giữ vững kỷ cương pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa.
Để tiến hành cải cách một bước thủ tục hành chính trước mắt cần phải
xúc tiến các công việc sau:
- Tổ chức việc soát xét các thủ tục hành chính và các khoản phí,
lệ phí đang áp dụng từ Trung ương đến cơ sở; phân tích, đánh giá và phân loại:
Loại phải bãi bỏ, loại phải sửa đổi, loại cần được hợp pháp hóa, loại cần được
hợp nhất thành một văn bản, loại cần phải giữ nguyên. Thủ trưởng các đơn vị
phải trực tiếp kiểm tra và chỉ đạo triển khai công việc này.
- Việc xử lý các thủ tục hành chính đã được phân loại phải thực hiện
đúng thẩm quyền đã quy định theo nghị quyết số 38/CP.
- Cải cách một bước thủ tục hành chính cần phải tiến hành tổ chức
lấy ý kiến đóng góp của nhân dân, tổ chức vì nhân dân, tổ chức là một trong
những chủ thể tham gia trực tiếp vào quan hệ thủ tục hành chính, họ biết và
không đồng ý về những điều, những gì cần phải thay đổi. Lấy ý kiến đóng góp
của nhân dân cũng đồng thời là thực hiện quyền tự do dân chủ thể hiện phương
châm của nhà nước ta: Nhà nước và nhân dân cùng làm.
- Trong quá trình áp dụng thủ tục hành chính phải triệt để tuân thủ
các quy định của thủ tục hành chính, đồng thời xử lý nghiêm minh những hành
vi cố ý làm trái pháp luật của các cá nhân được giao trách nhiệm.
Tiến hành thực hiện các công việc trên nhằm đạt mục đích:
- Tinh giảm thủ tục hành chính, loại bỏ những khâu xin phép, xét và
các duyệt không cần thiết, giảm phiền hà, tạo sự thuận tiện, giảm chi phí cho
nhân dân và các nhà kinh doanh, đồng thời đảm bảo sự quản lý theo pháp luật
của các cơ quan hành chính, góp phần tích cực ngăn chặn và bài trừ tệ nạn cửa
quyền, sách nhiễu hành vi vi phạm pháp luật khác.
- Lập lại trật tự trong việc ban hành thủ tục hành chính và lệ phí,
không được tùy tiện đặt thêm các thủ tục, thẩm quyền ban hành thủ tục hành
chính tập trung vào chính phủ và các bộ. Ngoài ra, chính quyền cấp tỉnh, thành
phố được ban hành một số loại thủ tục hành chính mang tính chất đặc thù của
địa phương theo ủy nhiệm của chính phủ và các bộ. Điều này tránh được sự tùy
tiện trong việc ban hành thủ tục hành chính, đồng thời nâng cao hiệu lực của các
văn bản pháp luật.
Trước mắt cần tập trung cải cách thủ tục hành chính trong 8 lĩnh vực đã
nêu ở trên, vì các lĩnh vực này tác động trực tiếp tới đời sống sản xuất kinh
doanh của nhân dân và các doanh nghiệp. Đồng thời, các lĩnh vực này đang có
nhiều vướng mắc, nhiều hiện tượng tiêu cực cần phải khắc phục kịp thời.
Bên cạnh đó, đi đôi với cải cách một bước thủ tục hành chính cần phải
xây dựng một quy chế công cụ và quy chế phối hợp giữa các cơ quan, công
chức có trách nhiệm giải quyết công việc của dân để thực hiện mô hình “một
dấu, một cửa”, tạo sự thuận lợi cho các chủ thể có công việc cần giải quyết.
6
Mở rộng thông tin công việc của nhà nước đến dân, bảo đảm quyền
được thông tin của nhân dân, chú trọng thông tin về thủ tục hành chính theo
nguyên tắc thông tin rộng rãi, công khai. Đồng thời xây dựng một cơ chế tiếp
nhận ý dân, đặc biệt là các đối tượng chính phải chấp hành thủ tục.
Như vậy, chúng ta có thể thấy cải cách thủ tục hành chính đòi hỏi cao
tính khoa học, tính hợp lý. Mặt khác, nó còn liên quan đến nhiều vấn đề cần
phải giải quyết đồng bộ. Do vậy, cải cách thủ tục hành chính không là một công
việc của hệ thống hành chính Nhà nước mà đòi hỏi có sự phối hợp của tất cả các
cấp, các nghành liên quan, các cán bộ gương mẫu, liêm khiết, có năng lực, và sư
tham gia tích cực của nhân dân đóng góp ý kiến, bổ sung, sửa đổi cũng như
kiểm soát các cơ quan, công chức chấp hành thủ tục và quy chế công cụ đã ban
hành. Có như vậy thì cải cách thủ tục hành chính mới có hiệu quả và sớm được
hoàn thiện.
2.3.Những thành tựu đã đạt được sau một thời gian cải cách thủ tục
hành chính
Sau gần 8 năm thực hiện nghị quyết 38/CP của chính phủ về cải cách
một bước nền hành chính nhà nước, trong đó công cuộc cải cách thủ tục hành
chính được xem là mũi đột phá và đã thu được một số kết quả nhất định trên cả
8 lĩnh vực. Ở mức độ tổng quát, ta có thể nhận định cải cách thủ tục hành chính
đạt được một số thành tựu sau:
- Thủ tục hành chính đã bước đầu chuyển mình theo hướng phục vụ
nhân dân, vì sự thuận tiện của nhân dân, giảm bớt sự phiền hà, sách nhiễu, chi
phí và thời gian cho nhân dân. Đây được xem là thành tựu quan trọng bước đầu
đáng ghi nhận. Trong hầu hết các lĩnh vực có cải cách, nói chung thủ tục hành
chính đã được đổi mới hướng theo sự thuận lợi cho nhân dân và doanh nghiệp,
từng bước xóa bỏ tình trạng thủ tục hành chính chỉ dành sự thuận lợi cho cơ
quan nhà nước, đẩy khó khăn cho nhân dân, cụ thể được biểu hiện như sau:
Thứ nhất, những công việc của nhân dân và doanh nghiệp được quy về
một đầu mối (chỉ một cơ quan nhận yêu cầu và tổ chức giải quyết). Những thủ
tục quá rườm rà, phức tạp không cần thiết đã được bãi bỏ, những thủ tục cần
được thu gọn đã thu gọn lại.
Điển hình nhất là việc cải cách hành chính trong lĩnh vực thành lập và
đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp, trước khi thông tư 05/1998/TTLN-
KHĐT- TP được ban hành tháng 8/1998 thì theo luật doanh nghiệp muốn thành
lập một doanh nghiệp tư nhân, luật công ty và các văn bản liên quan, chủ doanh
nghiệp muốn thành lập một doanh nghiệp phải thực hiện 02 bước sau: Thủ tục
xin phép thành lập; thủ tục đăng ký kinh doanh và đăng báo công khai. Những
thủ tục này phải đăng ký ở các đầu mối khác nhau, trong đó mỗi thủ tục phải
qua nhiều cửa. Tóm lại, để thành lập được một doanh nghiệp thì nhà đầu tư phải
qua hàng chục cửa với hàng chục con dấu, tốn nhiều chi phí mà thời gian kéo
dài hàng năm gây thất vọng, nản chí cho các nhà đầu tư nhất là nhà đầu tư nước
ngoài. Sau khi thông tư liên nghành số 05/1998/ TTLN- KHĐT- TP được ban
hành đã cải cách đáng kể tủ tục phiền hà trên. Đặc biệt, tháng 6/1999 Quốc hội
7
đã thông qua luật doanh nghiệp mới thì thủ tục thành lập doanh nghiệp chỉ còn
một bước là đăng ký kinh doanh và đăng báo công khai, làm thủ tục đăng ký tại
một cửa duy nhất là phòng đăng ký kinh doanh thuộc sở kế hoạch đầu tư tỉnh,
thành phố nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính
Như vậy, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp đã được rút gọn đáng
kể tạo sự thuận lợi và môi trường đầu tư thông thoáng cho các nhà đầu tư. Thêm
vào đó, ngày 3/12/2000, Thủ tướng chính phủ ban hành quyết định
19/2000/QĐ- Ttg về việc bãi bỏ 84 loại giấy phép không cần thiết hiện đang tồn
tại trong các ngành quản lý nhà nước. Bằng quyết định này và các văn bản ban
hành sau đó, có thể nói, nhà nước đã giảm một lượng công việc về thủ tục hành
chính không cần thiết cho các nhà đầu tư trong tất cả các nghành kinh tế quốc
dân. Trong thời gian tới, chính phủ tiếp tục nghiên cứu nhằm bãi bỏ một số loại
giấy phép của các ngành, các cấp nhằm làm thông thoáng môi trường đầu tư
nước ta. Có thể thấy, đó là những kết quả và những tín hiệu đáng mừng cho giới
đầu tư kinh doanh của Việt Nam cũng như nước ngoài.
Tiếp đến là Chính phủ mới ban hành nghị quyết 165/1999/NĐ- CP và
nghị quyết số 08/2000/NĐ- CP về giao dịch có đảm bảo và thực hiện việc đăng
ký giao dịch có đảm baortaij một hệ thống cơ quan thống nhất trong phạm vi
toàn quốc. Hệ thống cơ quan này được ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu đăng ký
giao dịch ngày càng lớn, đa dạng và phong phú khi nền kinh tế thị trường Việt
Nam ngày một phát triển sôi động. Bằng việc đơn giản hóa thủ tục đăng ký giao
dịch bảo đảm này chắc chắn sẽ tạo điều kiện để cai quản hộ kinh tế dân sự trong
đời sống xã hội vận hành một cách an toàn và hiệu quả ; đáp ứng được đòi hỏi
của công cuộc đổi mới kinh tế- xã hội ở Việt Nam
Thứ hai, hạn chế tối đa việc ban hành các thủ tục hành chính của cấp
chính quyền địa phương , chính từ việc có nhiều cơ quan ban hành thủ tục hành
chính mới tạo ra sự thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ. Hiện nay, tình trạng này về
cơ bản đã được khắc phục. Ví dụ: theo điều 2 nghị định 02/2000/NĐ-CP đã nói
ở trên thì các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân
dân cấp tỉnh không được ban hành cac quy định về đăng kí kinh doanh áp dụng
riêng cho nghành hoặc địa phương minh. Thêm nữa trình tự giải quyết công việc
cho nhân dân và doanh nghiệp hầu hết được một cách rõ ràng nhất quán trong
phạm vi toàn quốc. Đến nay chính phủ đều đã ban hành được văn bản quy định
về thủ tục giải quyết của nhân dân và doanh nghiệp. Các bộ, nghành đều đã có
các quy định cụ thể hướng dẫn thi hành
Thứ ba, hồ sơ giấy tờ có liên quan tới việc giải quyết công việc của nhân
dân đã được mẫu hóa một cách thống nhất. Điều nay hạn chế tối đa hiện tượng
cơ quan thẩm định hồ sơ viện cớ hồ sơ chưa rõ ràng để hạch sách dân, tạo ra sự
lành mạnh trong việc giải quyết công việc của dân, đồng thời lấy lại niềm tin
của dân đối với chính quyền.
Thứ tư, trình tự, lệ phí giải quyết công việc ở hầu hết các cơ quan đều
được công khai hóa tại trụ sở làm việc của cơ quan. Cán bộ công chức tiếp dân
về cơ bản được bố trí đủ và thường trực, tránh sự dán đoạn trong việc giải quyết
8
công việc của nhân dân. Trong các hướng dẫn thi hành văn bản có liên quan tới
thủ tục hành chính của nhân dân mà các bộ ban hành hầu hết đều có quy định
yêu cầu tất cả các cơ quan có trách nhiệm giải quyết công việc của nhân dân,
phải bố trí đầy đủ các bộ cần thiết để tiếp dân bố trí thời gian giải quyết công
việc của nhân dân cho phù hợp.
-Nhà nước đã bãi bỏ nhiều thủ tục, nội dung kiểm soát không hợp lí, đặt
niềm tin về sự làm ăn chân chính của công dân và đội ngũ doanh nghiệp nâng
caom ý thúc tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của công dân và doanh nghiệp
về công việc làm ăn của mình.
Điều này thể hiện một tư duy mới về quản lý nhà nước, tư duy có thể
diễn đạt một cách cô đọng như Thủ tướng chính phủ đã từng nói: không thể vì
một vài cá nhân doanh nghiệp có hành vi vi phạm pháp luật mà yêu cầu tất cả
các doanh nghiệp, doanh nhân phải chụi sự kiểm soát quá cứng nhắc và phiền
phức. Về điều này có rất nhiều minh chứng để chứng minh, ở đây xin đơn cử 02
lĩnh vực tiêu biểu:
Thứ nhất, trong việc thành lập và đăng ký doanh nghiệp: Trước đây, khi
lập hồ sơ xin phép thành lập hoặc đăng ký kinh doanh pháp luật đòi hỏi nhiều
loại thông tin trong hồ sơ như: sơ yếu lý lịch của nhà đầu tư, tình trạng sức
khỏe, vốn pháp định đều phải có sự xác nhận của các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền. Hiện nay, những thủ tục không cần thiết như vậy đã được loại bỏ.
Thứ hai, trong lĩnh vực xuất- nhập khẩu hiện nay nhà nước cho phép các
chủ hàng tự kê khai hàng hóa, số thuế phải nộp. Hải quan chỉ kiểm tra, giám sát
quá trình này và chỉ kiểm tra cụ thể khi có biểu hiện nghi vấn, có hành vi vi
phạm.
- Cơ quan trung ương đã đặt niềm tin nhiều hơn vào cơ quan địa
phương, cơ quan cấp trên đã tin tưởng vào cơ quan cấp dưới nhiều hơn, các cơ
quan trung ương đã mạnh dạn giao nhiều quyền hơn cho các cơ quan cấp dưới,
nhất là các công việc mang tính sự vụ cụ thể.
Để chứng minh cho điều này, xin đơn cử 2 ví dụ:
Thứ nhất, trong việc phân cấp quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài
theo quyết định 38/Ttg ngày 7/6/1997 và quyết định 41/1998 QĐ-Ttg ngày
20/2/1998 của Thủ tướng chính phủ đã phân cấp cho nhiều cơ quan có quyền
cấp phép đầu tư như: UBND cấp tỉnh, Ban Quản lý các khu công nghiệp cấp
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Thứ hai, trong lĩnh vực xuất- nhập cảnh: Trước kia chỉ có 03 cấp được
quyền quyết định nhân sự xuất- nhập cảnh là Thủ tướng chính phủ, Bộ trưởng
hoặc tương đương và Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Hiện nay, ngoài 03 cấp nói trên,
các Thủ trưởng, cơ quan thuộc bộ, thủ trưởng thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh,
tổng giám đốc các doanh nghiệp nhà nước lớn cũng được giao thẩm quyền này.
Như vậy, bằng sự phân quyền này, đã làm giảm bớt số lượng công việc
mang tính vụ cụ thể của các cơ quan nhà nước ở trung ương, từ đó các cơ quan
ở trung ương có nhiều thời gian hơn để tập trung vào hoạt động có tính vĩ mô
9
như hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật và chỉ đạo theo dõi, kiểm tra các
ngành, các cấp, các địa phương trong việc thực thi các chính sách pháp luật.
Những thành tựu đạt được nêu trên là những thành tựu đáng ghi nhận
bước đầu của tiến trình cải cách thủ tục hành chính ở nước ta. Những kết quả đó
cho thấy bộ máy hành chính đã bước đầu được củng cố, dần lấy lại niềm tin của
nhân dân và giới doanh nghiệp vào bộ máy nhà nước. Nhà nước đã bước đầu
thực sự sát cánh cùng nhân dân và doanh nghiệp đấu tranh chống đói nghèo,
vươn lên giàu có, vì sự phồn vinh của đất nước. Vươn tới mục tiêu dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
2.4.Những tồn tại và hạn chế của công cuộc cải cách hành chính
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thì tiến trình cải cách thủ tục
hành chính hiện nay còn bộc lộ những tồn tại và hạn chế. Tồn tại đó do cả
nguyên nhân khách quan và chủ quan, song để trước mắt là phải tìm ra biện
pháp khắc phục những yếu điểm đó. Tồn tại và hạn chế cụ thể được biểu hiện ở
những điểm sau:
- Cải cách thủ tục hành chính trong thời gian qua vẫn nặng nề về giải
pháp tình thế, thiếu tính tổng thể.
Thủ tục hành chính là biểu hiện tập trung nhất các hoạt động của nhà
nước can thiệp vào nền kinh tế và xã hội, tuy nhiên hiện nay mức độ và phương
pháp can thiệp của nhà nước vào từng lĩnh vực quản lý cụ thể vẫn chưa đáp ứng
một cách thỏa đáng. Việc xây dựng một chính sách vĩ mô mang tính tổng thể
vẫn nằm trong tình trạng cấp bách, nặng nề đề phòng, trói buộc, thiếu sự linh
hoạt, chủ động và thông thoáng. Vì vậy, thủ tục hành chính nhìn chung vẫn chưa
ổn định, chưa tạo được sức thu hút, giải phóng và khai thác mọi nguồn lực trong
nước, trong dân và quốc tế. Thủ tục hành chính luôn bị động trước yêu cầu phát
triển nhanh của đời sống thực tiễn.
Các biện pháp cải cách thủ tục hành chính trong thời gian qua vẫn mang
tính thử nghiệm, phương châm cải cách về cơ bản vẫn là vừa làm vừa lấy kinh
nghiệm, vừa học hỏi. Vì thế, chính phủ chưa hoạch định được một chiến lược
tổng thể để cải cách hành chính và cải cách thủ tục hành chính nói riêng. Điều
này làm cho tiến trình cải cách gặp nhiều lúng túng, bị động trước sự đòi hỏi của
xã hội.
- Chất lượng dịch vụ công nhà nước cung cấp cho nhân dân vẫn còn
thấp chưa đáp ứng được lòng mong mỏi của nhân dân và giới doanh nghiệp.
Biểu hiện của điều tồn tại này là nạn tham nhũng, hạch sách, thái độ thờ
của cán bộ công chức đối với công việc của nhân dân càng phổ biến. Khi có
việc người dân đi đến cơ quan chức năng để giải quyết, nhìn chung vẫn bị đối
xử như những người đi nhờ vả, đi xin. Mặt khác, phương tiện hiện đại cho một
nền hành chính công hoạt động hiệu quả còn thiếu, vì thế năng xuất giả quyết
công việc của dân còn thấp.
- Cải cách thủ tục hành chính chưa tương ứng trong tất cả các
lĩnh vực những khuyết tật trong nền hành chính gây ra những biến dạng trong sự
hiện hành của thủ tục hành chính mới.
10
Cho đến nay, không phải mọi lĩnh vực tiến hành cải cách đều đạt được
thành tựu mà thực sự vẫn còn nhiều lĩnh vực như: khiếu nại, tố cáo, hộ khẩu hộ
tịch . Mức độ cải cách thủ tục hành chính vẫn chưa đáp ứng được so với yêu
cầu thực tiễn. Một trong những yếu tố trở thành vật cản lớn làm cho thủ tục
hành chính mới khó đi vào đời sống là thực chất kém phẩm chất đạo đức, trình
độ chuyên môn của cán bộ công chức nhà nước. Chẳng hạn trong lĩnh vực xuất
nhập khẩu, để thông qua một container hàng thì doanh nghiệp phải đút tay cho
cán bộ hải quan một số tiền. Trong lĩnh vực công chứng, nhân viên tự đặt ra các
lệ nghỉ giữa giờ, không tiếp dân, thu lệ phí không đúng vẫn còn. Việc mẫu hóa
các giấy tờ giải quyết cho dân trong nhiều lĩnh vực còn chưa dồng bộ, gây hạch
sách cho những người có công việc cần giải quyết.
Như vậy, là sau một thời gian tiến hành cải cách thủ tục hành chính,
bên cạnh những thành quả đạt được còn bộc lộ những tồn tại, những điểm bất
cập. Những tồn tại đó đang có xu hướng làm cản trở tiến trình cải cách thủ tục
hành chính ở Việt Nam. Do đó, trong thời gian tới đòi hỏi nhà nước phải có biện
pháp kịp thời để khắc phục.
2.5 Nguyên nhân của tồn tại và hạn chế
Nguyên nhân của tồn tại và hạn chế cải cách thủ tục hành chính ở
nước ta bao gồm cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Vì vậy, việc đi sâu và
làm rõ nguyên nhân này có ý nghĩa thiết thực trong việc tìm ra định hướng để
tháo gỡ.
2.5.1 Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, do tính chất mới của bản thân đối tượng quản lý, sự nghiệp
đổi mới diễn ra chưa lâu, nên chưa tích lũy được kinh nghiệm, các quy luật của
nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường mới bước đầu bộc lộ, do đó việc
nhận thức còn chưa đầy đủ và đúng đắn. Vì vậy, sự chậm chạp trong việc tìm ra
phương thức quản lý là điều dễ hiểu.
Thứ hai, do tính mới mẻ của hoạt động cải cách thủ tục hành chính
phù hợp với cơ chế kinh tế mới. Đây thực sự là một công việc chưa có tiền lệ ở
nước ta. Vì vậy, trong những bước đi đầu tiên có những vấp váp nhất định là
điều khó tránh khỏi. Cùng đó là thói quen quản lý theo kiểu cũ còn ăn sâu vào
trong đại bộ phận các cán bộ công chức, quản lý nhà nước- vốn là những người
được đào tạo, kinh qua cơ chế cũ, mức độ đổi mới thích nghi với cơ chế mới
không chỉ là công việc muốn là được.
Thứ ba, trình độ lý luận của các nàh khoa học trong nghành và các nàh
chính trị vẫn chưa đáp ứng đầy đủ đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống đặt ra, mặc dù
đã có nhiều cố gắng, song hiện tại nhiều vấn đề lý luận về vai trò của nhà nước
trong nền kinh tế, về vai trò của giới doanh nhân với sự phát triển kinh tế xã hội
về lý thuyết thiết kế bộ máy nhà nước hiệu quả vẫn chưa có sự thống nhất.
2.5.2. Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, do sự yếu kém nhận thức của các cơ quan liên quan chưa
thống nhất hết được tầm quan trọng và tính cấp thiết của công tác cải cách thủ
tục hành chính đối với đòi hỏi của nhân dân và đất nước hiện nay. Từ đó dẫn
11
đến sự chỉ đạo điều hành chưa kịp thời. Hiện tượng này không chỉ diễn ra ở địa
phương và diễn ra ngay ở cấp chính phủ và bộ. Ví dụ, những bất cập của các thủ
tục hành chính trong lĩnh vực thành lập và đăng ký kinh doanh đối với doanh
nghiệp đã trở nên bức xúc từ nhiều năm, và từ năm 1994 chính phủ đã chỉ đạo
các bộ, ngành nghiên cứu và ban hành thủ tục mới, song phải tới cuối năm 1998
các văn bản thể hiện tinh thần ấy mới được ban hành, Sự yếu kém về nhận
thức này đòi hỏi phải sớm khắc phục.
Thứ hai, công tác tổng kết, đúc kết rút kinh nghiệm thực tiễn, phát
triển lý luận, giải đáp và dẫn đường cho thực tiễn còn chưa được chú trọng đúng
mức, ngay cả những nhà khoa học đầu ngành cũng gặp nhiều lúng túng khi giải
đáp các vấn đề của thực tiễn phát sinh trong cải cách thủ tục hành chính. Các
nguồn lực như: thời gian, công sức, kinh phí dành cho hoạt động cải cách thủ
tục hành chính còn chưa tương xứng. Ví dụ: hiện tại mỗi tỉnh chỉ có một phòng
đăng ký kinh doanh (thuộc sở kế hoạch đầu tư tỉnh) bố trí số cán bộ công chức
là 03 đến 04 người được trang bị một máy tính hầu hết là chưa nối mạng. Vậy
mà pháp luật quy định cho họ nhiệm vụ đăng ký kinh doanh cho hành trăm
doanh nghiệp mỗi năm, đồng thời theo dõi tình hình hoạt động của hàng trăm,
thậm chí hàng ngàn doanh nghiệp trên địa bàn. Qua đó ta thấy sự đầu tư chưa
thỏa đáng về mọi mặt cho việc cải cách thủ tục. Rõ ràng với biên chế và nguồn
lực như vậy thì đòi hỏi việc giải quyết công việc đạt chất lượng cao là điều khó
có thể thực hiện được.
Thứ ba, đội ngũ cán bộ công chức về cơ bản còn yếu và thiếu cả về
trình độ chuyên môn lẫn phẩm chất đạo đức chính trị.
Thứ tư, chế độ đãi ngộ cho cán bộ, công chức còn nhiều bất hợp lý dẫn
đến trong cuộc cải cách hành chính thiếu động lực: đội ngũ cán bộ, công chức
không thiết tha, tận tâm lắm với công việc.
2.6. Hướng khắc phục và một số kiến nghị về cải cách thủ tục hành chính ở
nước ta trong thời gian tới
Để công tác cải cách thủ tục hành chính đạt hiệu quả tốt, tạo ra môi
trường thông thoáng, hài hòa về mức độ và phương thức can thiệp của nhà nước
vào các lĩnh vực kịnh tế- xã hội. Trong thời gian tới chúng ta phải tập trung các
nguồn lực về thời gian, công sức và kinh phí để tìm ra các biện pháp cấp bách
nhằm khắc phục những tồn tại vướng mắc sau một thời gian tiến hành cải cách
thủ tục hành chính. Tuy vấn đề này không đơn giản, có thể khắc phục trong một
sớm một chiều song không thể không khắc phục. Trên cơ sở đó, phương hướng
đổi mới trong thời gian tới có thể là:
- Dành các nguồn lực thỏa đáng, tập trung nghiên cứu và đưa ra giải
pháp tối ưu nhất về mức độ và phương thức can thiệp của nhà nước vào các lĩnh
vực kinh tế xã hội. Tuy đây không phải là bài toán dễ giải đáp vì không có câu
trả lời chung cho tất cả các nghành, các lĩnh vực. Song không thể không giải đáp
bởi lẽ sự can thiệp, quản lý của nhà nước vào đời sống kinh tế- xã hội là tuyến
đồ phát sinh của thủ tục hành chính. Nếu không có lời giải thì việc đưa ra các
12
giải pháp cải cách thủ tục hành chính không có căn cứ chắc chắn về tính phù
hợp của nó đối với đời sống thực tiễn.
Đây cũng chính là nguyên nhân của tình trạng thủ tục hành chính
thường rơi vào trạng thái: hoặc là kiểm soát quá chặt chẽ, cứng nhắc; hoặc là
buông lỏng quá mức. Để khắc phục tình trạng này cần tổng rà soát lại một lần
nữa tất cả các lĩnh vực có sự kiểm soát của nhà nước bằng thủ tục hành chính,
đặc biệt là các lĩnh vực chủ chốt, mạnh dan xã hội hóa những lĩnh vực mà nhân
dân làm sẽ hiệu quả hơn nhà nước. Để làm tốt việc này nhà nước cần mạnh dan
đầu tư tài chính cho giới khoa học chủ chốt để hoạt động sáng tạo của họ có
hiệu quả. Khi thực hiện cần kiên trì và linh hoạt để có những điều chỉnh kịp
thời.
- Cẩn quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích giữa nhân dân và tập
thể, giữa cơ quan nhà nước với nhân dân, xây dựng chính sách thưởng phạt thỏa
đáng. Nâng cao tính hiệu quả và chất lượng của các dịch vụ công. Tổng kết
đánh giá hiệu quả trong ncoong việc của các cơ quan được giao nhiệm vụ . để từ
đó có những điều chỉnh hợp lí về nguồn lực, tránh sự lãng phí không cần thiết
- Cần quan tâm đúng mức về vấn đề lương , thưởng đối với những
người chịu thiệt thòi từ cải cách thủ tục hành chính nói riêng và cải cách thủ tục
hành chính nói chung. Vì khi tiến hành cải cách, ít nhiều sẽ động chạm tới lợi
ích của một bộ phận cán bộ công chức, từ đó những trường hợp này đáng lẽ phải
đi tiên phong trong cải cách thủ tục hành chính thì họ lại trở thành vật cản với
tiến trình cải cách. Bên cạnh đó, trong thời gian tới cần nghiên cứu để tăng
lương cho công chức. Đây là một biện pháp để đẩy nhanh quá trình cải cách bởi
lúc đó cán bộ công chức sẽ tập trung thời gian cho công việc không phải lo về
vấn đề cuộc sống đời thường. Đúng với tinh thần cải cách chế độ tiền lương của
Đảng đề ra trong nghị quyết hội nghị trung ương lần thứ 7 khóa VIII là “ Tiền
lương phải gắn liền với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, trả lương đúng
cho người lao động chính là thực hiện đúng đầu tư cho phát triển, nâng cao năng
xuất lao đông và hiệu quả công tác; góp phần làm lành mạnh , trong sạch đội
ngũ cán bộ, công chức; bảo đảm giá trị thực của tiền lương và từng bước cải
thiên sự phát triển kinh tế xã hội’.
- Tiếp tục mở rộng cải cách thủ tục hành chính trong tất cả các lĩnh vực
có sự kiểm soát của nhà nước theo hướng giảm thiểu sự kiểm soát phi hiệu quả
và không cần thiết, nhưng vẫn đảm bảo được vai trò quản lý của nhà nước. Rút
ngắn tối đa thời gian giải quyết các hồ sơ, công việc của công dân và doanh
nghiệp, phù hợp với thực lực hiện có. Các loại giấy tờ trong hồ sơ của công dân
hoăc doanh nghiệp có nội dung cần thẩm định thì đều phải được mẫu hóa thống
nhất, tạo sự thuân lợi cho người dân và cơ quan khi giải quyết công việc. Mọi
thủ tục , trình tự giải quyết, lịch làm việc, lệ phí cần niêm yết công khai tai trụ
sở làm việc. Bố trí cán bộ, nhân viên có mặt thường xuyên để tiếp dân. Đối với
những thủ tục liên quan chặt chẽ đến hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp như thủ tục hải quan, thủ tục đăng kí kinh doanh nên duy trì cả chế độ
làm việc cả ngày thứ bảy và chủ nhật.
13
- Xây dựng một cơ chế kiểm tra giám sát có hiệu quả đối với cán bộ
công chức đẻ từ đó phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh đối với những
người có hành vi vi phạm, có biểu hiện nhũng nhiễu, hách dịch trong mối quan
hệ với dân. Mặt khác phải đọng viên, khen thưởng kịp thời những người có
thành tích tốt trong công tác.
- Tiếp tục bồi dưỡng, nâng cao trau dồi kiến thức nghiệp vụ lẫn đạo đức
chính trị cho cán bộ công chức, kiên quyết loại bỏ hoặc chuyển công tác khác
đối với những người có tư duy cũ, chậm tiến và bảo thủ, mạnh dạn giao việc cho
lớp trẻ để họ có điều kiện phát huy nội lực.
- Phân công nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể cho các cấp , các nghành , tiếp
tục trao quyền hơn nữa cho cấp địa phương. Vì chính quyền địa phương có điều
kiện và lợi thế hơn so với chính quyền trung ương bởi họ sâu sát với dân vadf
công việc hơn. Chính quyền trung ương chỉ nên giám sát chỉ đạo, uốn nắn
những sai xót của chính quyền cấp dưới, tạo ra sự thống nhất, hài hòa về mối
quan hệ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương.
Có thể nói , phương hướng đổi mới và một số đề xuất trong thời gian tới
đối với vấn đề cải cách thủ tục hành chính không thể một lúc nêu ra được hết,
bởi chúng ta chỉ có thể đúc rút kinh nghiệm khi trải qua thực tiễn. do vậy trong
thời gian tới chủ yếu là vừa làm vừa điều chỉnh, vừa học hỏi. Với phương châm
đó trong tương lai cải cách thủ tục hành chính sẽ có diện mạo mới, góp phần to
lớn vào sự phát triển của đất nước trong thời kì đổi mới, đẩy nhanh sự hội nhập
vào cộng đồng quốc tế.
14

Xem chi tiết: thủ tục hành chính


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét