Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
quan trọng là cho phép đánh giá việc đầu tư có đúng đắn hay không và cho
phép xác định hướng đầu tư vốn cố định trong thời gian tới. Để đạt được ý
nghĩa đúng đắn đó, khi nghiên cứu cơ cấu vốn cố định phải nghiên cứu trên
hai giác độ: nội dung cấu thành và mối quan hệ tỉ lệ trong mỗi bộ phận so với
toàn bộ. Vấn đề cơ bản trong việc nghiên cứu này phải là xây dựng được một
cơ cấu hợp lý phù hợp với trình độ phát triển khoa học kỹ thuật, đặc điểm
kinh tế kỹ thuật của sản xuất, trình độ quản lý, để các nguồn vốn được sử
dụng hợp lý và có hiệu quả nhất. Cần lưu ý rằng quan hệ tỷ trọng trong cơ cấu
vốn là chỉ tiêu động. Điều này đòi hỏi cán bộ quản lý phải không ngừng
nghiên cứu tìm tòi để có được cơ cấu tối ưu.
Theo chế độ hiện hành VCĐ của doanh nghiệp được biểu hiện thành
hình thái giá trị của các loại tài sản cố định sau đây đang dùng trong quá trình
sản xuất:
1) Nhà cửa được xây dựng cho các phân xưởng sản xuất và quản lý
2) Vật kiến trúc để phục vụ sản xuất và quản lý
3) Thiết bị động lực
4) Hệ thống truyền dẫn
5) Máy móc, thiết bị sản xuất
6) Dụng cụ làm việc, đo lường, thí nghiệm
7) Thiết bị và phương tiện vận tải
8) Dụng cụ quản lý
9) Tài sản cố định khác dùng vào sản xuất công nghiệp
Trên cơ sở các hình thái giá trị của tài sản cố định như trên chỉ ra rõ ràng
cơ cấu vốn cố định chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố. Quan tâm nhất là đặc
điểm về kỹ thuật sản xuất của doanh nghiệp, sự tiến bộ kỹ thuật, mức độ hoàn
thiện của tổ chức sản xuất, điều kiện địa lý tự nhiên, sự phân bổ sản xuất. Vì
vậy khi nghiên cứu để xây dựng và cải tiến cơ cấu VCĐ hợp lý cần chú ý xem
xét tác động ảnh hưởng của các nhân tố này. Trong kết quả của sự phân tích,
đặc biệt chú ý tới mối quan hệ giữa các bộ phận VCĐ được biểu hiện bằng
máy móc thiết bị và bộ phận VCĐ được biểu hiện bằng nhà xưởng vật kiến
trúc phục vụ sản xuất.
c) Nguồn vốn cố định
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Mỗi khoản vốn cố định hay tài sản cố định trong doanh nghiệp không tự
nhiên mà có, nó nhất thiết phải được hình thành từ một nguồn đầu tư nhất
định. Nguồn vốn cố định chính là nguồn gốc tạo dựng, đầu tư để hình thành
nên các tài sản cố định của doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp, VCĐ dùng để
hoạt động sản xuất, kinh doanh được hình thành từ các nguồn sau:
Nguồn vốn pháp định: gồm vốn cố định do ngân sách, do cấp trên cấp
phát cho doanh nghiệp, vốn cổ phần do xã viên hợp tác xã và các cổ đông
đóng góp bằng tài sản cố định, hoặc vốn pháp định do chủ xí nghiệp bỏ ra ban
đầu khi thành lập xí nghiệp tư nhân.
Nguồn vốn tự bổ xung: gồm vốn cố định của những tài sản cố định đã
được đầu tư hoặc mua sắm bằng quỹ công ty.
Nguồn vốn liên doanh: gồm các khoản vốn do các đơn vị tham gia liên
kết gặp bằng tài sản cố định và bằng vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã hoàn
thành.
2.2 - Vốn lưu động:
a) Khái niệm và đặc điểm của vốn lưu động:
Vốn lưu động và biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động và vốn lưu
thông. Đó là số vốn doanh nghiệp đầu tư để dự trữ vật tư, để chi phí cho quá
trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, chi phí cho hoạt động quản lý của doanh
nghiệp. Hoàn toàn khách quan không như vốn cố định, VLĐ tham gia hoàn
toàn vào quá trình sản xuất kinh doanh, chuyển qua nhiều hình thái giá trị
khác nhau như tiền tệ, đối tượng lao động, sản phẩm dở dang, bán thành
phẩm, thành phẩm và trở lại hình thái tiền tệ ban đầu sau khi tiêu thụ sản
phẩm. Như vậy vốn lưu động chu chuyển nhanh hơn vốn cố định, quá trình
vận động của VLĐ thể hiện dưới hai hình thái:
- Hình thái hiện vật: đó là toàn bộ nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang,
bán thành phẩm, thành phẩm.
- Hình thái giá trị: là toàn bộ giá trị bằng tiền của nguyên vật liệu, bán
thành phẩm, thành phẩm, giá trị tăng thêm do việc sử dụng lao động sống
trong quá trình sản xuất và những chi phí bằng tiền trong lĩnh vực lưu thông.
Sự lưu thông về mặt hiện vật và giá trị của VLĐ ở các doanh nghiệp sản
xuất có thể biểu diễn bằng công thức chung:
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
T - H - SX - H' - T'
Trong quá trình vận động, đầu tiên VLĐ biểu hiện dưới hình thức tiền tệ
và khi kết thúc cũng lại bằng hình thức tiền tệ. Một vòng khép kín đó gợi mở
cho chúng ta thấy hàng hoá được mua vào để doanh nghiệp sản xuất sau đó
đem bán ra, việc bán được hàng tức là được khách hàng chấp nhận và doanh
nghiệp nhận được tiền doanh thu bán hàng và dịch vụ cuối cùng. Từ các kết
quả đó giúp ta sáng taọ ra một cách thức quản lý vốn lưu động tối ưu và đánh
giá được hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
b) Cơ cấu vốn lưu động:
Xác định cơ cấu VLĐ hợp lý có ý nghĩa tích cực trong công tác sử dụng
hiệu quả vốn lưu động. Nó đáp ứng yêu cầu vốn cho từng khâu, từng bộ phận,
đảm bảo việc sử dụng tiết kiệm hợp lý VLĐ. Trên cơ sở đó đáp ứng được
phần nào yêu cầu của sản xuất kinh doanh trong điều kiện thiếu vốn cho sản
xuất.
Cơ cấu VLĐ là quan hệ tỉ lệ giữa giá trị mỗi loại và nhóm đó so với toàn
bộ giá trị VLĐ. Tỉ lệ giữa giá trị mỗi loại và nhóm trong toàn bộ VLĐ hợp lý
thì chỉ hợp lý tại mỗi thời điểm naò đó và tính hợp lý chỉ mang tính nhất thời.
Vì vậy trong quản lý phải thường xuyên nghiên cứu xây dựng một cơ cấu hợp
lý đảm bảo độ "khoẻ mạnh" đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh từng thời
kỳ. Để thuận lợi cho việc quản lý và xây dựng cơ cấu vốn như thế, người ta
thường có sự phân loại theo các quan điểm tiếp cận khác nhau:
- Tiếp cận theo quá trình tuần hoàn và luân chuyển, VLĐ chia thành 3 loại:
+ Vốn trong dự trữ: là bộ phận vốn dùng để mua nguyên vật liệu, phụ
tùng thay thế, dự trữ chuẩn bị đưa vào sản xuất.
+ Vốn trong sản xuất: là bộ phận trực tiếp phục vụ cho giai đoạn sản
xuất như: sản phẩm dở dang, chi phí phân bổ, bán thành phẩm, tự chế tự
dùng.
+ Vốn trong lưu thông: là bộ phận trực tiếp phục vụ cho giai đoạn lưu
thông như tiền mặt, thành phẩm.
- Tiếp cận về mặt kế hoạch hoá, VLĐ được chia thành VLĐ không định
mức và VLĐ định mức.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
+ VLĐ định mức là số vốn tối thiểu cần thiết cho hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp trong kỳ, nó bao gồm vốn dự trữ vật tư hàng hoá và vốn phi
hàng hoá.
+ VLĐ không định mức là số vốn lưu động có thể phát sinh trong quá
trình kinh doanh và trong sản xuất, dịch vụ phụ thuộc nhưng không đủ căn cứ
để tính toán được.
c) Nguồn vốn lưu động:
Nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp gồm có vốn tự có, vốn coi như tự
có và vốn đi vay. Từ các nguồn vốn khác nhau này doanh nghiệp có phương
cách huy động trên nhiều nguồn, hỗ trợ lẫn nhau đảm bảo cho yêu cầu của
doanh nghiệp.
- Vốn tự có bao gồm:
+ Nguồn vốn pháp định: chính là vốn lưu động do ngân sách hoặc cấp
trên cấp cho đơn vị thuộc khối nhà nước; nguồn vốn cổ phần nghĩa vụ do xã
viên hợp tác xã và các cổ đông đóng góp hoặc vốn pháp định của chủ doanh
nghiệp tư nhân.
+ Nguồn vốn tự bổ sung: Nguồn này hình thành từ kết quả sản xuất kinh
doanh của đơn vị thông qua quỹ khuyến khích phát triển sản xuất và các
khoản chênh lệch hàng hoá tồn kho theo cơ chế bảo toàn giá trị vốn.
+ Nguồn vốn lưu động liên doanh: gồm có các khoản vốn của các đơn vị
tham gia liên doanh, liên kết góp bằng tiền, hàng hoá, sản phẩm, nguyên vật
liệu, công cụ lao động nhỏ v.v
- Vốn coi như tự có: được hình thành do phương pháp kết toán hiện
hành, có một số khoản tiền tuy không phải của doanh nghiệp nhưng có thể sử
dụng trong thời gian rỗi để bổ sung vốn lưu động. Thuộc khoản này có: tiền
thuế, tiền lương, bảo hiểm xã hội, phí trích trước chưa đến hạn phải chi trả có
thể sử dụng và các khoản nợ khác.
- Vốn đi vay: nhằm đảm bảo nhu cầu thanh toán bức thiết trong khi hàng
chưa bán đã mua hoặc sự không khớp trong thanh toán. Nguồn vốn đi vay là
nguồn vốn cần thiết, song cần chú ý tới các hình thức vay khác nhau với tỉ lệ
lãi suất khác nhau và phải trả kịp thời cả vốn và lãi vay.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Bằng cách nghiên cứu các nguồn của cả vốn lưu động và vốn cố định
như trên, người kinh doanh có thể đạt được sự tổng hợp về các nguồn vốn
theo các chỉ dẫn của kế toán tài chính. Nguồn vốn ở các doanh nghiệp giờ đây
trở thành nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu thể hiện
ở khoản "có"; nợ phải trả chính là khoản vay, nợ của doanh nghiệp đối với
các tổ chức, cá nhân để đầu tư, hình thành tài sản của doanh nghiệp, được
sử dụng trong một thời gian nhất định và sau đó phải hoàn trả cả vốn lẫn lãi
như đã cam kết. Ý nghĩa của việc nghiên cứu này cho ta tạo quan hệ giữa vốn
và nguồn vốn về phương diện giá trị đầu tư như sau:
Giá trị TSCĐ + Giá trị TSLĐ = Nguồn vốn chủ sở hữu + Nợ phải trả
II. NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN
1. Nội dung hoạt động quản lý vốn cố định và vốn lưu động:
1.1 - Nội dung hoạt động quản lý vốn cố định:
Quản lý vốn cố định (VCĐ) nghĩa là phải đi đến các quyết định. Giống
như việc quản lý hoạt động kinh doanh của công ty, việc quản lý VCĐ ảnh
hưởng quan trọng đến sự tồn tại và hiệu quả sử dụng vốn. Quản lý VCĐ thành
công đòi hỏi các nhà quản lý phải gắn liền sự vận động của VCĐ với các hình
thái biểu hiện vật chất của nó. Hơn thế nữa, để quản lý có hiệu quả VCĐ
trước hết cần nghiên cứu những tính chất và đặc điểm của tài sản cố định
trong doanh nghiệp. Trong khoa học quản lý VCĐ thường đi vào những nội
dung cụ thể sau:
a) Hao mòn và khấu hao tài sản cố định
* Hao mòn tài sản cố định
Như đã đề cập sơ lược ở trên, trong quá trình sử dụng cũng như không sử
dụng tài sản cố định đều bị hao mòn dưới hai hình thức: hao mòn hữu hình và
hao mòn vô hình. Giống như hai khía cạnh của một vấn đề, cả hao mòn hữu hình
và hao mòn vô hình đều làm cho giá trị tài sản cố định giảm xuống và chịu ảnh
hưởng bởi những nhân tố nào đều thể hiện dưới những dạng khác nhau.
Hao mòn hữu hình là sự hao mòn về vật chất, tức là sự tổn thất dần về
chất lượng, tính năng kỹ thuật của TSCĐ. Thực chất kinh tế của hao mòn hữu
hình là giá trị của tài sản cố định dần dần giảm đi cùng với việc chuyển dần
giá trị của nó vào giá trị sản phẩm được sản xuất ra. Khi tài sản cố định không
được sử dụng, hao mòn hữu hình được thể hiện ở chỗ tài sản cố định bị mất
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
dần thuộc tính do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, do quá trình xảy ra trong
nội tại nguyên liệu cấu thành tài sản cố định đó. Như vậy hao mòn hữu hình
có ảnh hưởng quyết định tới độ bền của tài sản cố định và do đó nó chịu ảnh
hưởng của ba nhóm nhân tố.
Nhóm một thuộc chất lượng chế tạo như: vật liệu dùng để chế tạo ra tài sản
cố định, trình độ kỹ thuật, công nghệ chế tạo, chất lượng xây dựng và lắp đặt.
Nhóm hai thuộc quá trình sử dụng: được xem xét về mức độ đảm nhận
về thời gian và cường độ sử dụng, tay nghề công nhân, việc chấp hành quy
tắc, quy trình kỹ thuật, chế độ bảo dưỡng, sửa chữa.
Nhóm ba thuộc các yếu tố tự nhiên như độ ẩm, khí hậu, thời tiết
Hao mòn vô hình là sự hao mòn chủ yếu do năng suất lao động xã hội
tăng lên và sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật, tổ chức sản xuất. Hệ quả của hai
nguyên do này dẫn đến việc người ta sản xuất ra tài sản cố định cùng loại
nhưng lại có chất lượng cao hơn mà giá lại rẻ hơn. Và như thế tài sản cố định
của ta nghiễm nhiên bị sụt giá.
Xuất phát từ việc nghiên cứu hao mòn tài sản cố định cung cấp cho
chúng ta những luận cứ cần thiết minh chứng cho việc "bảo vệ" tài sản cố
định nhằm giảm tối đa tổn thất hữu hình và hao mòn vô hình. Những biện
pháp thường được sử dụng như nâng cao cường độ và thời gian sử dụng, nâng
cao chất lượng, hạ giá thành chế tạo và xây lắp tài sản cố định, tổ chức tốt
việc bảo quản và sửa chữa máy móc thiết bị, nâng cao ý thức trách nhiệm của
công nhân. Một ý nghĩa khác là nó cũng cung cấp cho ta cơ sở tốt để lập nên
kế hoạch khấu hao tài sản cố định, kế hoạch bảo toàn và phát triển vốn cố
định.
* Khấu hao tài sản cố định:
Trong quá trình tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, hình thái vật chất
của tài sản cố định không thay đổi nhưng giá trị của nó hao mòn dần và
chuyển từng phần vào giá thành sản phẩm mới được sản xuất ra. Phần giá trị
này được thu hồi dưới hình thức khấu hao và được hạch toán vào giá thành
sản phẩm. Như vậy khấu hao tài sản cố định là một khoản cấu thành phí lưu
thông và được bù đắp bằng doanh thu bán hàng. Về thực chất, khấu hao là
quá trình giảm giá trị của tài sản cố định. Việc suy giảm giá trị của tài sản cố
định cuối cùng sẽ dẫn đến khấu hao hết tài sản cố định, khi đó phải đầu tư để
có được tài sản cố định khác. Vậy quá trình này diễn ra trong bao lâu? Sở dĩ
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
đòi hỏi yêu cầu chính xác tương đối về thời gian như vậy bởi hai nguyên
nhân: thứ nhất nếu xác định không đúng thời gian sử dụng dẫn đến còn đang
sử dụng đã khấu hao hết, thứ hai chưa khấu hao hết đã hỏng. Cả hai nguyên
nhân này đều có ảnh hưởng không tốt tới sự vận động của vốn cố định và giá
thành sản phẩm làm ra. Để xác định đúng đắn thời hạn sử dụng tài sản cố định
chúng ta phải dựa vào cơ sở đã chỉ ra là phải xác định đúng được hao mòn của
tài sản cố định hay khấu hao tài sản cố định.
Khấu hao tài sản cố định được phân bổ trên hai hình thức là khấu hao cơ
bản và khấu hao sửa chữa lớn. Khấu hao cơ bản nhằm tái bồi hoàn lại giá trị
tài sản cố định đã hao mòn. Khấu hao sửa chữa lớn nhằm bảo vệ duy trì và
kéo dài năng lực sử dụng bình thường của TSCĐ. Như vậy hai hình thức khấu
hao này có phương thức bù đắp và mục đích khác nhau, do đó tiền trích
khấuhao tài sản cố định được chia thành hai bộ phận theo phương pháp xác
định tỷ lệ:
Tỉ lệ khấu
hao cơ bản
=
Nguyên giá Chi phí thanh lý Giá trị đào
thải
TSCĐ (ước tính) (ước tính)
Nguyên giá TSCĐ x Thời hạn sử dụng TSCĐ
Tỉ lệ khấu
hao sửa chữa
=
Phí tổn sửa chữa lớn (ước tính)
Nguyên giá TSCĐ x Thời hạn sử dụng
TSCĐ
Bộ phận thứ nhất của tiền trích khấu hao là tiền trích khấu hao cơ bản,
dùng để bù đắp TSCĐ sau khi bị đào thải đã mất giá trị sử dụng. Theo quy
định của Nhà nước về chế độ khấu hao cơ bản trong các doanh nghiệp nhà
nước, từ ngày 1/1/1995 các doanh nghiệp nhà nước được phép giữ lại toàn bộ
khấu hao cơ bản đã trích để đầu tư thay thế, đổi mới tài sản cố định. Còn các
doanh nghiệp khác phải lập quỹ khấu hao để duy trì hoạt động của doanh
nghiệp, thực hiện yêu cầu tái sản xuất mở rộng.
Bộ phận thứ hai là tiền khấu hao sửa chữa lớn nhằm sửa chữa tài sản cố
định một cách có hệ thống và kế hoạch để duy trì khả năng sản xuất của tài
sản cố định trong suốt thời kỳ sử dụng. Doanh nghiệp trích tiền khấu hao sửa
11
+
_
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
chữa lớn gửi vào một tài khoản riêng ở ngân hàng đầu tư và phát triển để
dùng làm nguồn vốn cho kế hoạch sửa chữa lớn TSCĐ.
Giờ đây ta có thể thấy mối quan hệ giữa thời hạn sử dụng TSCĐ và tỉ lệ
trích khấu hao, do đó có thể chỉ ra ý nghĩa cụ thể ở phần hao mòn đã đề cập
đến. Rõ ràng nếu tỉ lệ khấu hao quá thấp hay thời hạn sử dụng quá dài, sẽ
không đủ bù đắp hao mòn thực tế của TSCĐ, vì vậy không đảm bảo được
công tác bảo toàn và phát triển vốn. Ngược lại nếu tỉ lệ khấu hao quá cao hay
thời hạn sử dụng TSCĐ được xác định quá ít, sẽ làm tăng giá thành sản phẩm
một cách giả tạo, tạo ra những khó khăn cho việc tiêu thụ hàng hoá.
b) Kế hoạch khấu hao tài sản cố định:
Bằng cách lập lên kế hoạch khấu hao tài sản cố định, doanh nghiệp đã có
thể định ra được tiến độ và mức trích khấu hao tài sản cố định từng nhóm và
toàn bộ doanh nghiệp. Để lập kế hoạch khấu hao tài sản cố định cần phải xác
định được tổng giá trị TSCĐ đầu kỳ, tổng giá trị TSCĐ tăng thêm và giảm đi
trong kỳ, mức khấu hao phải trích trong năm và tình hình phân phối sử dụng
các quỹ khấu hao. Theo quy định số 517/TTg ngày 21/10/1995 kế hoạch khấu
hao TSCĐ bao gồm:
- TSCĐ không phải tính khấu hao cơ bản và khấu hao sửa chữa lớn (đất đai).
- TSCĐ tăng thêm trong năm kế hoạch, nếu tăng vào một ngày nào đó
của tháng thì tháng sau mới tính khấu hao.
Giá trị bình quân
của TSCĐ tăng
thêm trong năm
=
Giá trị TSCĐ tăng trong năm x số tháng sử
dụng TSCĐ
12
- TSCĐ giảm bớt trong năm kế hoạch, nếu giảm bớt từ một ngày nào đó
của tháng thì tháng sau không tính khấu hao.
Giá trị bình quân
của TSCĐ giảm
trong năm KH
=
Giá trị TSCĐ giảm trong năm x Số tháng không sử
dụng TSCĐ
12
- Tổng giá trị bình quân TSCĐ phải tính khấu hao trong năm được xác
định theo công thức:
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Tổng giá trị bình
quân TSCĐ phải
tính khấu hao
trong năm KH
=
=
Tổng giá
trị TSCĐ
có đầu kỳ
+
+
Tổng giá trị
TSCĐ bình
quân tăng
trong kỳ
-
-
Tổng giá trị
TSCĐ bình
quân giảm
trong kỳ
Cùng với các yêu cầu trên, ta còn phải xác định được chỉ tiêu tổng quỹ
khấu hao cơ bản và quỹ khấu hao sửa chữa lớn. Sau đó phải xác định được chỉ
tiêu quỹ khấu hao cơ bản trích nộp vào quỹ khấu hao của kỳ kế hoạch theo
công thức sau:
Quỹ khấu
hao cơ bản
phải trích kỳ
kế hoạch
=
=
Quỹ khấu hao
cơ bản năm
trước chuyển
sang
+
+
Tổng giá trị
khấu hao cơ
bản kỳ kế
hoạch
-
-
Quỹ khấu
hao cơ bản
chuyển sang
năm sau
Nghiên cứu các chỉ tiêu của kế hoạch khấu hao TSCĐ cho ta một ý nghĩa
đáng lưu ý trong việc đề xuất các ý kiến cho quản lý vốn cố định ở doanh
nghiệp. Bằng việc xem xét mức độ tăng giảm của các chỉ tiêu và xác định các
nguyên nhân tăng giảm đó, người quản lý thấy rõ được phần nào cảnh quan
và tình hình TSCĐ của doanh nghiệp để có các biện pháp điều chỉnh hợp lý.
Một ý nghĩa khác là cung cấp những thông số cần thiết cho việc lập các kế
hoạch, chương trình khác của doanh nghiệp về thị trường, cạnh tranh
c) Bảo toàn và phát triển vốn cố định:
Trong quá trình tham gia vào cạnh tranh với các doanh nghiệp khác
nhằm phục vụ tốt cho nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp cần có một hậu
phương với tiềm lực vững mạnh, đó chính là vốn. Để phát huy được ý nghĩa
đó doanh nghiệp không những một mặt phải duy trì và phát triển các hoạt
động kinh doanh, mặt khác quan trọng hơn là phải bảo toàn và phát triển được
vốn nói chung và vốn cố định nói riêng.
Vấn đề đặt ra như trên không có nghĩa rằng việc doanh nghiệp làm ăn có
lãi thực thì không phải bảo toàn và phát triển vốn. Ý kiến đó xuất phát từ việc
hiểu không đầy đủ về vấn đề bảo toàn vốn. Nếu chúng ta tiếp cận theo quan
điểm nhân quả thì thấy rõ vấn đề bảo toàn vốn luôn cần thiết trong suốt quá
trình hoạt động kinh doanh của công ty. Được tồn tại trong môi trường kinh tế
tự do, hoạt động kinh doanh không tránh khỏi những biến động về giá cả, lạm
phát mà gây tác động không nhỏ tới tiền vốn của công ty. Lạm phát tăng
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
làm cho sức mua của đồng tiền và giá trị của đồng vốn giảm xuống so với
thực tế. Mặt khác, bất kỳ một tác động chủ quan nào thể hiện tính vô trách
nhiệm, buông lỏng quản lý đều dẫn đến hư hỏng, mất mát tài sản cố định. Tất
cả những nguyên nhân đó đưa ta đến kết quả phải bảo toàn và phát triển vốn.
Bảo toàn vốn là quá trình thu hồi lại vốn đã bỏ ra ban đầu, phát triển vốn là
lấy lợi nhuận để bổ sung vốn kinh doanh làm tăng vốn kinh doanh. Bảo toàn
và phát triển vốn được phải thông qua sử dụng có hiệu quả vốn, tức là với một
lượng vốn như cũ nhưng tạo ra nhiều lợi nhuận hơn.
Như chúng ta đã biết, vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố
định. Tài sản cố định có đặc điểm tham gia vào nhiều chu kỹ kinh doanh và
thu hồi dần dưới dạng khấu hao. Việc bảo toàn vốn phải lấy cả từ hao mòn
hữu hình và hao mòn vô hình, bất kỳ một sự thiếu sót nào đều có thể mắc lỗi.
Về mặt hữu hình: thì doanh nghiệp phải giữ cho TSCĐ không bị loại
khỏi sản xuất kinh doanh trước khi hết niên hạn sử dụng, không sử dụng vốn
cố định sai mục đích hoặc đi mua bán lại TSCĐ tạo chênh lệnh giá để ăn chia
vào vốn, phải duy trì và nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ.
Về mặt vô hình: đòi hỏi công ty phải có tỉ lệ khấu hao hợp lý bảo đảm
cho tái sản xuất TSCĐ mới.
Tuy vậy, chúng ta cần phải xác định được số vốn cố định cần phải bảo
toàn đến cuối kỳ theo công thức:
Vốn cố
định
phải
bảo
toàn
=
=
Vốn cố
định được
giao đầu
kỳ
Khấu
hao đã
trích
trong kỳ
X
Hệ số
điều chỉnh
TSCĐ
±
Giá trị
TSCĐ
(tăng, giảm
trong kỳ)
Những thành công trong công tác bảo toàn VCĐ sẽ tạo cơ sở tốt cho kế
hoạch phát triển VCĐ. Phát triển VCĐ được doanh nghiệp trích từ lợi nhuận
để lại doanh nghiệp và phần khấu hao cơ bản để lại đầu tư xây dựng cơ bản,
thực hiện tái sản xuất mở rộng và mua sắm mới TSCĐ.
1. 2 - Nội dung hoạt động quản lý vốn lưu động:
a) Xác định vốn lưu động định mức kỳ kế hoạch:
Xuất phát từ vai trò không thể thiếu của vốn lưu động đòi hỏi chúng ta
phải luôn có một lượng vốn lưu động để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét