có tính chất thờng xuyên và gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm nên gọi là
chi phí sản xuất của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp ngoài việc sản xuất, chế biến còn phải tổ chức tiêu thụ sản
phẩm. Trong quá trình này doanh nghiệp cũng phải bỏ ra những khoản chi phí nhất
định nh: Chi phí về bao gói sản phẩm, chi phí vận chuyển, bảo quản. Ngoài ra để
giới thiệu rộng rãi sản phẩm cho ngời tiêu dùng, cũng nh để hớng dẫn ngời tiêu
dùng hoặc thăm dò khảo sát thị trờng nhằm đề ra những quyết định có tính chất tối
u đối với việc sản xuất thì doanh nghiệp cũng phải bỏ ra các chi phí về nghiên cứu,
tiếp thị, quảng cáo, giới thiệu hay bảo hành sản phẩm.
Ngoài những chi phí sản xuất và chi phí sinh hoạt, trong quá trình hoạt động
của doanh nghiệp còn bỏ ra những khoản chi phí phục vụ cho những hoạt động của
bộ máy quản lý doanh nghiệp có liên quan đến quá trình kinh doanh.
Nh vậy, nhìn từ góc độ doanh nghiệp, có thể thấy chi phí sản xuất kinh
doanh của một doanh nghiệp là toàn bộ chi phí sản xuất, chi phí tiêu thụ sản
phẩm, chi phí quản lý doanh nghiệp có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh
doanh và các khoản thuế gián thu mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện hoạt
động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định.
Để đánh giá đợc kết quả hoạt động kinh doanh tốt đòi hỏi doanh nghiệp cần
phải có doanh thu từ hoạt động kinh doanh bù đắp, trang trải đợc toàn bộ chi phí
kinh doanh và thu đợc lợi nhuận cao. Điều này cho thấy không phải khoản mục chi
phí nào cũng đợc đa vào chi phí hoạt động mà chúng ta phải xét đến tính chất, đặc
điểm của nó.
Chi phí kinh doanh là một chỉ tiêu quan trọng. Qua xem xét chỉ tiêu này có
thể đánh giá đợc trình độ quản lý kinh doanh, tình hình sử dụng vốn, tiết kiệm chi
phí của doanh nghiệp. Chi phí kinh doanh ảnh hởng trực tiếp đến lợi nhuận mà lợi
nhuận là mục tiêu kinh doanh, mục đích cuối cùng của mỗi doanh nghiệp. Vì vậy,
các doanh nghiệp phải luôn quan tâm đến vấn đề quản lý chi phí, bởi lẽ mỗi đồng
chi phí không hợp lý đều làm tăng giá thành sản phẩm, giảm lợi nhuận của doanh
5
nghiệp. Do đó hạ thấp chi phí kinh doanh là một điều kiện để doanh nghiệp đạt đ-
ợc mục tiêu của mình và đảm bảo cho sự tồn tại và đi lên của doanh nghiệp.
b. Đặc điểm chi phí kinh doanh của doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp kinh doanh khác nhau thì đối tợng tập hợp chi phí sản
xuất là khác nhau. Đối tợng tập hợp chi phí là phạm vi giới hạn mà chi phí cần
tập hợp nhằm phục vụ cho việc thông tin kiểm tra chi phí và tính giá thành sản
phẩm .
Việc xác định đối tợng tập hợp chi phí sản xuất cần thiết cho công tác hạch
toán kế toán chi phí sản xuất sao cho phù hợp với đặc điểm tình hình hoạt động
sản xuất, đặc điểm quy trình sản phẩm và đáp ứng yêu cầu quản lý chi phí của
doanh nghiệp. Từ khâu ghi chép ban đầu, tổng hợp số liệu, tổ chức tài khoản và
mở sổ chi tiết đều phải theo đúng đối tợng kế toán chi phí đã xác định.
Việc xác định đối tợng tập hợp chi phí sản xuất trong ngành sản xuất nói
chung và trong kinh doanh xây lắp nói riêng thờng căn cứ vào:
- Đặc điểm quy trình công nghệ của việc sản xuất sản phẩm (việc sản xuất sản
phẩm là giản đơn hay phức tạp, liên tục hay song song)
- Loại hình sản xuất sản phẩm ( sản xuất đơn chiếc hay hàng loạt)
- Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp .
- Đặc điểm tổ chc bộ máy quản lý (hay yêu cầu quản lý ).
- Đơn vị tính giá thành trong doanh nghiệp
Tổ chức sản xuất là quá trình sản xuất thi công của các doanh nghiệp
XDCB có những đặc điểm riêng so với những ngành nghề khác nên đối tợng kế
toán chi phí sản xuất thờng đợc xác định là từng công trình, bộ phận thi công
hay đơn đặt hàng.
Trên thực tế, các doanh nghiệp xây lắp hiện nay thờng tập hợp chi phí theo
công trình hoặc hạng mục công trình.
Việc xác định đối tợng hạch toán chi phí sản xuất là khâu đầu tiên cần
thiết và quan trọng của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất. Có xác định
đúng đối tợng hạch toán, tập hợp chính xác các khoản chi phí phát sinh phù hợp
với đặc điểm tổ chức và sản xuất của doanh nghiệp mới giúp cho tổ chức tốt
công tác chi phí.
1.1.1.2. Phân loại chi phí kinh doanh của doanh nghiệp
6
Chi phí phải trả trong năm tài chính bao gồm nhiều khoản chi phí. Các chi
phí này khác nhau về nội dung kinh doanh, tính chất của chi phí, vai trò của nó
trong việc tạo ra sản phẩm, dịch vụ. Để tạo điều kiện cho công tác quản lý và hạch
toán chi phí tính giá thành sản phẩm từ đó tính đúng kết quả từng loại hoạt động
kinh doanh thì việc phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo các tiêu thức là rất
cần thiết.
Để phân loại chi phí sản xuất ngời ta có rất nhiều tiêu thức khác nhau nhng
về mặt cơ bản ngời ta dùng ba tiêu thức chủ yếu:
Một là, phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo nội dung, tính chất
kinh tế.
Theo cách phân loại này chi phí chia thành các yếu tố khác nhau, mỗi yếu tố
chi phí chỉ bao gồm những chi phí cùng một nội dung kính tế không phân biệt chi
phí đó phát sinh từ lĩnh vực nào. Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp đợc chia thành 5 loại:
Chi phí vật t mua ngoài là toàn bộ giá trị vật t mua ngoài dùng vào hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nh chi phí nguyên vật liệu chính, vật
liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế
Chi phí tiền lơng và các khoản trích theo lơng là toàn bộ các khoản tiền
lơng, tiền công doanh nghiệp phải trả cho những ngời tham gia vào hoạt động sản
xuất kinh doanh; các khoản chi phí trích nộp theo lơng nh chi phí BHXH, BHYT,
KPCĐ mà doanh nghiệp phải nộp trong kỳ.
Chi phí khấu hao tài sản cố định là toàn bộ số tiền khấu hao các loại tài
sản cố định trích trong kỳ.
Chi phí dịch vụ mua ngoài là toàn bộ số tiền doanh nghiệp phải trả cho
các dịch vụ đã sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ do các đơn vị
khác ở bên ngoài cung cấp nh: dịch vụ điện, nớc
Chi phí khác bằng tiền là các khoản chi phí bằng tiền ngoài các khoản
đã nêu trên.
7
Phân loại các chi phí của doanh nghiệp thành các yếu tố chi phí nh trên có ý
nghĩa lớn trong quản lý chi phí. Nó cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng loại chi phí
để phân tích đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất theo yếu tố ở
Bảng thuyết minh báo cáo tài chính, cung cấp tài liệu tham khảo để lập dự toán chi
phí sản xuất, lập kế hoạch cung ứng vật t, kế hoạch quỹ lơng, tính toán nhu cầu
vốn đầu t cho kỳ sau.
Hai là, phân loại chi phí sản xuất theo mục đích công dụng của chi phí.
Cách phân loại này dựa vào mục đích công dụng của chi phí nơi phát sinh
chi phí và nơi gánh chịu chi phí để phân chia chi phí sản xuất thành các khoản mục
khác nhau. Theo cách phân loại này toàn bộ chi phí sản xuất đợc chia thành:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là các chi phí về nguyên vật liệu, nhiên
liệu, dụng cụ sản xuất trực tiếp dùng vào việc chế tạo sản phẩm hàng hóa dịch vụ.
Chi phí nhân công trực tiếp là toàn bộ các khoản tiền lơng, tiền công,
các khoản phụ cấp có tính chất lơng, các khoản chi BHXH, BHYT, KPCĐ của
nhân công trực tiếp sản xuất trong doanh nghiệp.
Chi phí sản xuất chung là các khoản chi phí đợc sử dụng ở các phân x-
ởng, bộ phận kinh doanh nh: Tiền lơng và phụ cấp lơng của quản đốc, nhân viên
phân xởng, chi phí tài sản cố định thuộc phạm vi phân xởng, chi phí vât liệu, công
cụ dụng cụ, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền phát sinh ỏ phạm vi phân
xởng, bộ phận sản xuất.
Chi phí bán hàng bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ
sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nh: Chi phí tiền lơng, phụ cấp trả lơng cho công nhân
bán hàng, tiếp thị, vận chuyển, bảo quản, các chi phí khấu hao phơng tiện vận tải,
chi phí vật liệu, bao bì, các chi phí dịch vụ mua ngoài, các chi phí bằng tiền khác
(nh: Bảo hành sản phẩm, quảng cáo).
Chi phí quản lý doanh nghiệp là các chi phí cho bộ máy quản lý doanh
nghiệp, các chi phí liên quan đến hoạt động chung của doanh nghiệp nh: Khấu hao
tài sản cố định phục vụ cho bộ máy quản lý, chi phí công cụ dụng cụ, các chi phí
8
khác phát sinh trong phạm vi toàn doanh nghiệp (nh: Tiền lơng và các khoản phụ
cấp lơng trả cho Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, nhân viên các phòng ban quản
lý), chi phí vật liệu, đồ dùng văn phòng, các khoản thuế, lệ phí, bảo hiểm, chi phí
dịch vụ mua ngoài thuộc văn phòng doanh nghiệp. Các khoản chi phí dự phòng
giảm gía hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi, công tác phí, các chi phí
giao dịch, đối ngoại
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp có thể tập hợp chi phí và tính gía
thành cho từng loại sản phẩm, quản lý chi phí tại địa điểm phát sinh để khai thác
khả năng hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.
Ba là, phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với quy mô sản xuất
kinh doanh
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đợc
chia thành hai loại: Chi phí cố định và chi phí biến đổi.
Chi phí cố định: Là các chi phí không thay đổi (hoặc thay đổi không
đáng kể) theo sự thay đổi quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thuộc
loại chi phí này bao gồm: Chi phí khấu hao tài sản cố định (theo thời gian); chi phí
tiền lơng trả cho cán bộ, nhân viên quản lý, chuyên gia, lãi tiền vay phải trả, chi
phí cho thuê tài chính, văn phòng.
Chi phí biến đổi: Là các chi phí thay đổi trực tiếp theo sự thay đổi của
quy mô sản xuất. Thuộc loại chi phí này bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu, chi phí
tiền lơng công nhân trực tiếp, chi phí hoa hồng bán hàng, chi phí dịch vụ đợc cung
cấp (nh: Tiền điện, tiền nớc, tiền điện thoại )
Do đặc điểm của từng loại chi phí nêu trên khi quy mô sản xuất kinh doanh
càng tăng thì chi phí cố định tính cho một đơn vị sản phẩm hàng hoá, dịch vụ càng
giảm. Riêng đối với chi phí biến đổi, việc tăng hoặc giảm hay không thay đổi khi
tính chi phí này cho một đơn vị sản phẩm còn phụ thuộc vào tơng quan biến đổi
giữa quy mô sản xuất kinh doanh và tổng chi phí biến đổi của doanh nghiệp.
9
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy đợc xu hớng biến đổi của
từng loại chi phí theo quy mô kinh doanh, từ đó doanh nghiệp có thể xác định đợc
sản lợng hoà vốn cũng nh quy mô kinh doanh hợp lý để đạt đợc hiệu quả cao nhất.
1.1.2.Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp
1.1.2.1. Khái niệm và ý nghĩa của giá thành sản phẩm
Trong sản xuất kinh doanh chí phí mới là mặt thứ nhất thể hiện sự hao phí
đã chi ra. Để đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, chi phí phải
đợc xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với mặt thứ hai cũng là mặt cơ bản trong
quá trình sản xuất. Đó là, kết quả sản xuất thu đợc biểu hiện dới hình thái tiền tệ,
quan hệ so sánh đó đã hình thành nên chỉ tiêu Giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí của doanh
nghiệp đã bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một đơn vị sản phẩm
hay một khối lợng sản phẩm nhất định.
Có nhiều loại doanh nghiệp sản xuất ra cùng sản phẩm nhng do trình độ
quản lý khác nhau, giá thành sản phẩm đó sẽ khác nhau. Chính vì vậy mà giá
thành sản phẩm mang tính cá biệt đối với từng doanh nghiệp.
Trong công tác quản lý các hoạt động kinh doanh, giá thành sản phẩm có
một ý nghĩa hết sức quan trọng thể hiện trên các mặt sau:
Giá thành là thớc đo mức hao phí về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, là
căn cứ để xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh. Muốn lựa chọn sản xuất một loại
sản phẩm nào đó, doanh nghiệp cần phải nắm bắt đợc nhu cầu thị trờng, gía cả thị
trờng và mức hao phí sản xuất loại sản phẩm đó. Trên cơ sở nh vậy mới xác định
đợc hiệu quả sản xuất loại sản phẩm đó để lựa chọn và quyết định khối lợng sản
xuất tối u.
Giá thành là một công cụ quan trọng của doanh nghiệp để kiểm soát
tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, xem xét hiệu quả các biện pháp tổ chức,
kỹ thuật. Thông qua tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, doanh nghiệp có thể
10
xem xét tình hình sản xuất và chi phí bỏ vào sản phẩm, phát hiện và tìm ra các
nguyên nhân dẫn đến phát sinh chi phí không hợp lý để có biện pháp loại trừ.
Giá thành còn là một căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xây dựng
chính sách giá cả đối với từng loại sản phẩm, tạo cho doanh nghiệp có đủ sức cạnh
tranh trên thị trờng.
1.1.2.2. Các loại giá thành sản phẩm
Trong phạm vi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có thể phân biệt giá thành sản
xuất sản phẩm và giá thành toàn bộ.
Giá thành sản xuất của sản phẩm và dịch vụ bao gồm:
Chi phí vật t trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí sản xuất chung
Giá thành toàn bộ sản phẩm đã tiêu thụ gồm toàn bộ chi phí liên quan đến quá
trình sản xuất và tiêu thụ một khối lợng sản phẩm nhất định gồm:
Giá thành sản xuất của sản phẩm
Chi phí bán hàng
Chi phí quản lý doanh nghiệp
Đứng trên góc độ kế hoạch hoá, giá thành sản phẩm của doanh nghiệp còn đ-
ợc chia thành:
Giá thành kế hoạch: Việc xác định gía thành kế hoạch đợc xây
dựng trớc khi bớc vào chu kỳ sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành kế hoạch đợc
tính trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và đợc xem là mục tiêu phấn đấu của
doanh nghiệp, là cơ sở để phân tích, đánh gía tình hình thực hiện kế hoạch giá
thành, kế hoạch hạ gía thành của doanh nghiệp.
Giá thành định mức: Đợc thực hiện trớc khi tiến hành sản xuất
chế tạo sản phẩm. Giá thành định mức đợc tính trên cơ sở các chi phí hiện hành và
chi phí đơn vị sản phẩm. Nó là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp, là th-
ớc đo chính xác để xác định hiệu quả sử dụng tài sản, vật t, lao động trong sản xuất
11
giúp cho việc đánh gía đúng đắn các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp
đã thực hiện trong quá trình hoạt động sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh.
Giá thành thực tế: Đợc xác định khi quá trình sản xuất, chế tạo
sản phẩm đã hoàn thành và đợc xác định trên cơ sở lợng chi phí sản xuất thực tế đã
phát sinh trong kỳ. Giá thực tế phản ánh tổng hợp kết quả phấn đấu của doanh
nghiệp trong việc tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Nó là cơ sở để xác định
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là căn cứ để xây dựng
giá thành kế hoạch cho kỳ sau, đảm bảo cho giá thành kế hoạch ngày càng sát thực
và hợp lý.
1.1.2.3. Phơng pháp tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp.
*Phơng pháp thứ nhất: Phơng pháp tính giá thành giản đơn :
Phơng pháp tính giá thành giản đơn còn gọi là phơng pháp tính trực tiếp ph-
ơng pháp này áp dụng thích hợp với những sản phẩm, công việc có quy trình công
nghệ sản xuất giản đơn khép kín, tổ chức sản xuất nhiều, chu kỳ sản xuất ngắn và
xen kẽ liên tục, đối tợng tính giá thành tơng ứng phù hợp với đối tợng kế toán tập
hợp CPSX, kỳ tính giá thành định kỳ hàng tháng (quý) phù hợp với kỳ báo cáo . Ví
dụ tính giá thành sản phẩm điện, nớc, bánh kẹo, than quặng, kim loại .
Trờng hợp cuối kỳ có nhiều sản phẩm dở dang & không ổn định, cần tổ
chức đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo phơng pháp thích hợp. Trên cơ sở số
liệu CPSX đã tập hợp trong kỳ & chi phí của sản phẩm dở dang đã xác định, tính
giá thành sản phẩm hoàn thành cho từng khoản mục chi phí theo công thức:
Z = C + D
đk
- D
ck
Giá thành đơn vị sản phẩm tính nh sau: z=
Trong đó:
Z, z: Tổng giá thành đơn vị sản phẩm, lao vụ sản xuất thực tế.
C: Tổng chi phí sản xuất đã tập hợp trong kỳ theo từng đối tợng.
12
Z
Q
D
đk
, D
ck
: Chi phí của sản phẩm dở dang đầu kỳ & cuối kỳ.
Q: Sản lợng sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành.
Trờng hợp cuối kỳ không có sản phẩm dở dang hoặc có nhng ít & ổn định nên
không cần tính chi phí của sản phẩm dở thì tổng chi phí sản xuất đã tập hợp trong
kỳ cũng đồng thời là tổng giá thành sản phẩm hoàn thành: Z = C.
*Phơng pháp thứ hai: Phơng pháp hệ số:
Phơng pháp tính giá thành sản phẩm theo hệ số áp dụng đối với những DN
trong cùng một quy trình công nghệ sản xuất, cùng sử dụng một loại nguyên liệu,
vật liệu, nhng kết quả sản xuất thu đợc nhiều loại sản phẩm khác nhau nh DN sản
xuất hoá chất, công nghiệp hoá dầu, công nghiệp nuôi ong. Khi đó đối tợng tập
hợp CPSX là toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất, còn đối tợng tính giá thành là
từng loại sản phẩm hoàn thành.
Theo phơng pháp này muốn tính đợc giá thành cho từng loại sản phẩm phải
căn cứ vào tiêu chuẩn kỹ thuật để xác định cho mỗi loại sản phẩm một hệ số tính
giá thành, trong đó lấy loại sản phẩm có hệ số bằng 1 làm sản phẩm tiêu chuẩn.
Căn cứ vào sản lợng thực tế hoàn thành của từng loại sản phẩm & hệ số tính giá
thành quy ớc cho từng loại sản phẩm để quy đổi sản lợng thực tế ra sản lợng tiêu
chuẩn (sản phẩm có hệ số bằng1).
Gọi H
i
là hệ số tính giá thành quy ớc của sản phẩm i
Q
i
là sản lợng sản xuất thực tế của sản phẩm i
Tính quy đổi sản lợng thực tế ra sản lợng tiêu chuẩn
Q = Q
i
x H
i
Trong đó Q: Tổng sản lợng thực tế hoàn thành quy đổi ra sản lợng sản phẩm
tiêu chuẩn.
Tính tổng giá thành & giá thành đơn vị của từng loại sản phẩm
Z
i
=
13
D
đk
+ C - D
ck
x Q
i
H
i
Q
z
i
=
*Phơng pháp thứ ba: Phơng pháp tính giá thành theo tỷ lệ.
Phơng pháp tính giá thành sản phẩm theo tỷ lệ áp dụng thích hợp đối với
doanh nghiệp mà cùng một quy trình công nghệ sản xuất, kết quả sản xuất đợc
nhóm sản phẩm cùng loại, với nhiều chủng loại phẩm cất, quy cách khác nhau nh
sản xuất nhóm ống nớc với nhiều kích thớc đờng kính & độ dài khác nhau, sản
xuất quần áo dệt kim với nhiều cỡ số khác nhau, sản xuất chè hơng với nhiều phẩm
cấp khác nhau.
Trong trờng hợp này, đối tợng tập hợp CPSX là toàn bộ quy trình công nghệ
sản xuất của nhóm sản phẩm, còn đối tợng tính giá thành sẽ là từng quy cách sản
phẩm trong nhóm sản phẩm đó. Để tính giá thành thực tế cho từng quy cách của
sản phẩm có thể áp dụng phơng pháp tính hệ số hoặc phơng pháp tỷ lệ.
Tính giá thành sản phẩm theo phơng pháp tỷ lệ phải căn cứ vào tiêu chuẩn
phân bổ hợp lý và chi phí sản xuất đã tập hợp để tính ra tỷ lệ tính giá thành. Tiêu
chuẩn phân bổ thờng là giá thành kế hoạch hoặc giá thành định mức. Sau đó tính
giá thành cho từng thứ sản phẩm.
Cách tính nh sau:
Tỷ lệ tính giá thành
từng khoản mục
=
Giá thành thực tế cả nhóm sản phẩm (theo từng khoản mục)
Tổng tiêu chuẩn phân bổ (theo từng khoản mục)
Giá thành thực tế = Tiêu chuẩn phân bổ của từng x Tỷ lệ tính giá thành
từng qui cách (theo từng khoản mục) khoản mục.
Sản phẩm chính còn thu đợc sản phẩm phụ. Ví dụ nhà máy đờng cung một qui
trình công nghệ ngoài sản phẩm chính là đơng kính, còn thu đợc sản phẩm phụ là
rỉ đờng; nông trờng chăn nuôi lợn thịt thì ngoài sản phẩm chính là sản lợng lợn
thịt, còn có sản phẩm phụ là phân bón.
14
Z
i
Q
i
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét