Công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán: là CTCK có lĩnh vực hoạt động
chủ yếu là thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh để hởng phí hoặc chênh lệch giá.
Công ty kinh doanh chứng khoán: là CTCK chủ yếu thực hiện nghiệp vụ
kinh doanh, có nghĩa là tự bỏ vốn và chịu trách nhiệm về hậu quả kinh doanh.
Công ty trái phiếu: là CTCK chuyên mua bán các loại trái phiếu.
Công ty chứng khoán không tập trung: là các CTCK hoạt động chủ yếu trên
thị trờng OTC và họ đóng vai trò là các nhà tạo lập thị trờng.
1.2.2. Phân loại theo loại hình tổ chức (tính chất sở hữu).
Hiện nay, có ba loại hình tổ chức cơ bản của CTCK, đó là: công ty hợp danh;
công ty trách nhiệm hữu hạn; công ty cổ phần.
Công ty hợp danh
Là loại hình kinh doanh có từ hai chủ sở hữu trở nên.
Thành viên của CTCK hợp danh bao gồm: Thành viên góp vốn và thành viên
hợp danh. Các thành viên hợp danh phải có trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản
của mình về các nghĩa vụ của công ty. Các thành viên góp vốn không tham gia điều
hành công ty, họ chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp của mình
đối với những khoản nợ của công ty.
Công ty hợp danh thông thờng không đợc phép phát hành bất cứ một loại
chứng khoán nào.
Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập với các chủ sở hữu công ty là các
cổ đông
Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh
nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán (cổ phiếu và trái phiếu) ra
công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán hiện hành.
5
Công ty trách nhiệm hữu hạn
Thành viên của công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài
sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp.
Công ty trách nhiệm hữu hạn không đợc phép phát hành cổ phiếu.
Do các u điểm của loại hình công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn
so với công ty hợp danh, vì vậy, hiện nay chủ yếu các CTCK đợc tổ chức dới hình
thức công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần.
1.3. Nguyên tắc hoạt động của CTCK
CTCK hoạt động theo hai nhóm nguyên tắc cơ bản đó là nhóm nguyên tắc
mang tính đạo đức và nhóm nguyên tắc mang tính tài chính.
Nhóm nguyên tắc đạo đức.
- CTCK phải bảo đảm giao dịch trung thực và công bằng vì lợi ích của khách
hàng.
- Kinh doanh có kỹ năng, tận tuỵ có tinh thần trách nhiệm.
- Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trớc khi thực hiện lệnh của công ty.
- Có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng, không đợc tiết lộ các thông tin về tài
khoản khách hàng khi cha đợc khách đồng ý bằng văn bản trừ khi có yêu cầu của
các cơ quan quản lý nhà nớc.
- CTCK khi thực hiện nghiệp vụ t vấn phải cung cấp thông tin đầy đủ cho
khách hàng và giải thích rõ ràng về các rủi ro mà khách hàng có thể phải gánh chịu,
đồng thời họ không đợc khẳng định về lợi nhuận các khoản đầu t mà họ t vấn.
- CTCK không đợc phép nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài các khoản thù
lao thông thờng cho dịch vụ t vấn của mình.
- Nghiêm cấm thực hiện các giao dịch nội gián, các CTCK không đợc phép sử
dụng các thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán cho chính mình, gây thiệt hại
đến lợi ích của khách hàng.
6
- Các CTCK không đợc tiến hành các hoạt động có thể làm cho khách hàng và
công chúng hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản chất của chứng khoán hoặc các hoạt
động khác gây thiệt hại cho khách hàng.
Nhóm nguyên tắc tài chính.
- Đảm bảo các yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn và nguyên tắc hạch toán báo cáo
quy định của UBCKNN. Đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết kinh doanh chứng
khoán với khách hàng.
- CTCK không đợc dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính để kinh
doanh, ngoại trừ trờng hợp đó đợc dùng phục vụ cho giao dịch của khách hàng.
- CTCK phải tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng với tài sản của
mình. CTCK không đợc dùng chứng khoán của khách hàng làm vật thế chấp để vay
vốn trừ trờng hợp đợc khách hàng đồng ý bằng văn bản.
1.4. Các hoạt động của CTCK
1.4.1 Các hoạt động chính.
1.4.1.1 Hoạt động môi giới chứng khoán.
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian đại diện mua bán chứng khoán
cho khách hàng để hởng hoa hồng. Theo đó CTCK đại diện cho khách hàng tiến
hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại SGDCK hoặc thị trờng OTC mà
chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch của mình.
Thông qua hoạt động môi giới, CTCK sẽ chuyển đến khách hàng những sản
phẩm dịch vụ t vấn đầu t và kết nối giữa nhà đầu t bán chứng khoán với nhà đầu t
mua chứng khoán và trong những trờng hợp nhất định, hoạt động môi giới sẽ trở
thành ngời bạn, ngời chia sẽ những lo âu, căng thẳng và đa ra những lời động viên
kịp thời cho nhà đầu t, giúp nhà đầu t có những quyết định tỉnh táo.
Nghề môi giới đòi hỏi phải có những phẩm chất, t cách đạo đức kỹ năng mẫn
cán trong công việc và thái độ công tâm, cung cấp cho khách hàng những dịch vụ
tốt nhất. Nhà môi giới không đợc xúi giục khách hàng mua, bán chứng khoán để
7
kiếm hoa hồng, mà nên đa ra lời khuyên hợp lý để hạn chế đến mức thấp nhất về
thiệt hại cho khách hàng.
1.4.1.2 Hoạt động tự doanh.
Tự doanh là việc CTCK tự tiến hành các giao dịch mua bán chứng khoán cho
chính mình. Hoạt động tự doanh của CTCK đợc thực hiện thông qua cơ chế giao
dịch trên SGDCK hoặc thị trờng OTC. Tại một số thị trờng vận hành theo cơ chế
khớp giá hoạt động tự doanh của CTCK đợc thực hiện thông qua hoạt động tạo lập
thị trờng. Lúc này, CTCK đóng vai trò nhà tạo lập thị trờng nắm giữ một số chứng
khoán nhất định của một số loại chứng khoán và thực hiện mua bán chứng khoán
với các khách hàng để hởng chênh lệch giá.
Mục đích của hoạt động tự doanh là nhằm thu lợi nhuận cho chính công ty
thông qua hành vi mua, bán chứng khoán với khách hàng. Nghiệp vụ này hoạt động
song hành với nghiệp vụ môi giới, vừa phục vụ lệnh giao dịch cho khách hàng đồng
thời cũng phục cho chính mình, vì vậy trong quá trình hoạt động có thể dẫn đến
xung đột lợi ích giữa thực hiện giao dịch cho khách hàng và cho bản thân công ty.
Do đó, luật pháp của các nớc đều yêu cầu tách biệt rõ ràng giữa hoạt động môi giới
và hoạt động tự doanh, CTCK phải u tiên thực hiện lệnh của khách hàng trớc khi
thực hiện của mình. Thậm chí luật pháp ở một số nớc còn quy định hai loại hình
CTCK là công ty môi giới chứng khoán chỉ làm chức năng môi giới chứng khoán
và CTCK có chức năng tự doanh.
1.4.1.3 Hoạt động bảo lãnh phát hành.
Để thực hiện thành công các đợt chào bán chứng khoán ra công chúng đòi hỏi
tổ chức phát hành phải cần đến các CTCK t vấn cho đợt phát hành và thực hiện bảo
lãnh, phân phối chứng khoán ra công chúng. Đây là nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
của các CTCK và là nghiệp vụ chiếm tỷ lệ doanh thu khá cao trong tổng doanh thu
của CTCK.
Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành là việc CTCK có chức năng bảo lãnh (tổ chức
bảo lãnh) giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trớc khi chào bán chứng
khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong
giai đoạn đầu sau khi phát hành. Trên TTCK, tổ chức bảo lãnh phát hành không chỉ
8
có các CTCK mà còn bao gồm các định chế tài chính khác nh ngân hàng đầu t, nh-
ng thông thờng việc CTCK nhận bảo lãnh phát hành thờng kiêm luôn việc phân
phối chứng khoán, còn lại ngân hàng đầu t thờng đứng ra bảo lãnh phát hành (hoặc
thành lập tổ hợp bảo lãnh phát hành) sau đó chuyên phân phối chứng khoán cho các
CTCK tự doanh hoặc các thành viên khác.
1.4.1.4 Hoạt động quản lý danh mục đầu t.
Đây là hoạt động quản lý vốn uỷ thác của khách hàng để đầu t vào chứng
khoán thông qua danh mục đầu t nhằm sinh lợi cho khách hàng trên cơ sở tăng lợi
nhuận và bảo toàn vốn cho khách hàng. Quản lý danh mục đầu t là một dạng hoạt
động t vấn mang tính chất tổng hợp có kèm theo đầu t khách hàng uỷ thác tiền cho
CTCK thay mặt mình quyết định đầu t theo một chiến lợc hay những nguyên tắc đã
đợc khách hàng chấp thuận hoặc theo yêu cầu .
Hoạt động này bao gồm các bớc sau:
- Xúc tiến tìm hiểu và nhận quản lý: CTCK và khách hàng tiếp xúc và tìm hiểu
về khả năng tài chính, chuyên môn từ đó đa ra các yêu cầu về quản lý vốn uỷ thác.
- Ký hợp đồng quản lý: CTCK ký hợp đồng quản lý giữa khách hàng và công
ty theo các yêu cầu, nội dung về vốn, thời gian uỷ thác, mục tiêu đầu t, quyền và
trách nhiệm của các bên, phí quản lý danh mục đầu t. Thực hiện các hợp đồng quản
lý: CTCK thực hiện đầu t vốn uỷ thác của khách hàng theo các nội dung đã đợc
cam kết và phải bảo đảm tuân thủ các quy định về quản lý vốn, tài sản tách biệt
giữa khách hàng và chính công ty.
- Kết thúc hợp đồng quản lý: khách hàng có nghĩa vụ thanh toán các khoản chi
phí quản lý theo hợp đồng ký kết và xử lý các trờng hợp khi CTCK bị ngng hoạt
động, giải thể hoặc phá sản.
1.4.1.5 Hoạt động t vấn đầu t chứng khoán.
Cũng nh những loại hình t vấn khác, t vấn đầu t là việc CTCK thông qua hoạt
động phân tích để đa ra các lời khuyên, phân tích các tình huống và có thể thực
hiện một số công việc dịch vụ khác liên quan đến phát hành, đầu t và cơ cấu tài
chính cho khách hàng.
9
Hoạt động t vấn chứng khoán đợc phân loại nh sau:
- Theo hình thức của hoạt động t vấn: Bao gồm t vấn trực tiếp (Gặp trực tiếp
khách hàng hoặc qua th từ điện thoại) và t vấn gián tếp (thông qua ấn phẩm sách
báo) để t vấn cho khách hàng.
- Theo mức độ uỷ quyền của t vấn: Bao gồm t vấn gợi ý và t vấn uỷ quyền .
- Theo đối tợng của hoạt động t vấn: Bao gồm t vấn cho ngời phát hành và t
vấn đầu t.
1.4.2. Các hoạt động phụ trợ.
1.4.2.1 Lu ký chứng khoán.
Là việc lu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng thông qua các tài khoản
lu ký chứng khoán đây là quy định bắt buộc trong giao dịch chứng khoán, bởi vì
giao dịch chứng khoán trên thị trờng tập trung là hình thức giao dịch ghi sổ, khách
hàng phải mở tài khoản lu ký chứng khoán tại các CTCK hoặc ký gửi chứng khoán.
Khi thực hiện dịch vụ lu ký chứng khoán cho khách hàng, CTCK sẽ nhận đợc các
khoản thu phí lu ký chứng khoán, phí gửi, phí rút và phí chuyển nhợng chứng
khoán.
1.4.2.2 Quản lý thu nhập của khách hàng (quản lý cổ tức).
Xuất phát từ việc lu ký chứng khoán cho khách hàng, CTCK sẽ theo dõi tình
hình thu lãi, cổ tức của chứng khoán và đứng ra làm dịch vụ thu nhận và chi trả cổ
tức cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng.
1.4.2.3 Nghiệp vụ tín dụng.
Đối với các TTCK phát triển bên cạnh hoạt động môi giới chứng khoán cho
khách hàng để hởng hoa hồng, CTCK còn triển khai dịch vụ cho vay chứng khoán
để khách hàng thực hiện giao dịch bán khống hoặc cho khách hàng vay tiền để họ
thực hiện hoạt động mua ký quỹ.
Cho vay ký quỹ là hình thức cấp tín dụng của CTCK cho khách hàng của mình
để họ mua chứng khoán và sử dụng các chứng khoán đó làm vật thế chấp cho
khoản vay đó. Khách hàng chỉ cần ký quỹ một lần, số còn lại sẽ do CTCK ứng trớc
tiền thanh toán. Đến kỳ hạn thoả thuận, khách hàng phải trả hoàn đủ số gốc vay
10
cùng với lãi cho CTCK. Trờng hợp khách hàng không trả đợc nợ thì công ty sẽ phát
mãi số chứng khoán đã mua để thu hồi nợ.
1.4.2.4 Nghiệp vụ quản lý quỹ.
ở một số TTCK, pháp luật về TTCK còn cho phép CTCK đợc thực hiện hoạt
động quản lý quỹ đầu t. Theo đó, CTCK cử đại diện của mình để quản lý quỹ và sử
dụng vốn và tài sản của quỹ đầu t để đầu t chứng khoán. CTCK đợc thu phí dịch vụ
quản lý quỹ đầu t.
1.5. Các nhân tố ảnh hởng tới hoạt động của CTCK.
1.5.1. Các yếu tố bên trong
1.5.1.1. Yếu tố tổ chức quản lý
Ta đã biết hoạt động của CTCK rất đa dạng và phức tạp khác hẳn với các
doanh nghiệp sản xuất và thơng mại thông thờng vì CTCK là một định chế tài
chính đặc biệt. Vì vậy, ứng với các TTCK khác nhau, các CTCK khác nhau sẽ có hệ
thống tổ chức quản lý khác nhau. Sở dĩ nh vậy, vì việc tổ chức quản lý của một
CTCK sẽ ảnh hởng trực tiếp tới hiệu quả hoạt động nói chung và hoạt động kinh
doanh nói riêng của công ty. Nếu tổ chức quản lý không khoa học sẽ làm cho việc
thực hiện các hoạt động không đồng bộ, ăn khớp dẫn đến sai sót và kết quả là ảnh
hởng đến toàn bộ hoạt động khác của công ty. Do các hoạt động của CTCK có đặc
thù là độc lập với nhau nhng vẫn có những ảnh hởng nhất định với nhau, vì vậy tổ
chức quản lý của CTCK phải đáp ứng đợc yêu cầu này. Các phòng ban phải tổ chức
hợp lý sao cho vừa đảm bảo hoạt động đợc thực hiện nhanh chóng, chính xác, vừa
bảo mật thông tin. Có nh vậy thì CTCK mới có thể tiến hành hoạt động kinh doanh
một cách an toàn và ổn định.
1.5.1.2. Yếu tố con ngời
Yếu tố con ngời ở đây chủ yếu là nói đến đội ngũ nhân viên của CTCK.
Chứng khoán là một lĩnh vực đòi hỏi ngời nhân viên phải có chuyên môn hoạt động
vững vàng và có khả năng phân tích đánh giá cũng nh khả năng nhạy bén đối với
các thông tin của thị trờng. Vì vậy có thể nói nhân viên của CTCK phải là những
chuyên gia trong lĩnh vực mình phụ trách. Nếu họ nhận định sai một thông tin nào
đó sẽ dẫn đến việc các nhà đầu t mất lòng tin vào công ty. Trong trờng hợp sai sót
11
đó còn nhỏ thì khách hàng sẽ từ bỏ công ty này sang công ty khác, nhng nếu sai sót
lớn thì không những hình ảnh của công ty bị ảnh hởng mà nó còn tác động đến thị
trờng, bởi khách hàng sẽ gây ra phản ứng dây truyền một cách nhanh chóng và khó
có thể dự đoán điều gì xảy ra. Ngoài ra cũng không thể phủ nhận ảnh hởng của các
nhà quản lý các CTCK trong yếu tố về con ngời. Họ là ngời quyết định các chính
sách, chiến lợc của công ty, ngoài việc phải am hiểu tổng thể các hoạt động, họ còn
cần có khả năng tổ chức lãnh đạo. Vì vậy đối với CTCK, yêu cầu đối với một ngời
quản lý là rất cao.
1.5.1.3. Yếu tố tài chính
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào thì vấn đề tài chính cũng là vấn đề rất
quan trọng. Tình hình tài chính của công ty tốt tức là công ty làm ăn hiệu quả, có
lãi. Nó sẽ quyết định định hớng cũng nh quy mô hoạt động kinh doanh trong giai
đoạn tiếp theo của công ty. Nếu tài chính không tốt, không những hoạt động kinh
doanh của công ty không thể mở rộng đợc mà còn làm giảm sút uy tín và lòng tin
của khách hàng đối với công ty. Mà đối với CTCK ảnh hởng của công ty đối với
khách hàng là rất quan trọng. Vì trong chức năng hoạt động kinh doanh của công ty
thực chất là phải cung cấp các dịch vụ, đáp ứng các yêu cầu về chứng khoán của
khách hàng, nếu không có đủ năng lực tài chính để đa ra các tiện ích phục vụ khách
hàng thì sẽ không còn ai muốn hợp tác với công ty nữa. Riêng đối với Việt Nam thì
yếu tố tài chính còn đặc biệt quan trọng bởi số vốn điều lệ của công ty quyết định
cả các hoạt động mà công ty đợc phép hoạt động. Hơn nữa, do khách hàng mở tài
khoản tại CTCK nên công ty không những phải coi trọng tài chính của mình mà
còn phải quan tâm tới các tài khoản của khách hàng. Công ty phải mở và quản lý tài
sản của khách hàng tách biệt với nhau.
1.5.1.4. Yếu tố công nghệ
Cuộc sống ngày càng phát triển nên công nghệ đối với tất cả các ngành nghề
đều rất quan trọng. Nhng đối với ngành chứng khoán thì thời gian gắn liền với tiền
bạc nếu thông tin không nhanh chóng, chính xác thì sẽ gây ra những hậu quả đáng
tiếc. Do CTCK là trung gian, là cầu nối giữa các chủ thể của thị trờng, vì vậy thông
tin sau khi họ cập nhật đợc sẽ phải công bố lại cho nhiều đối tợng ở nhiều địa
12
điểm. Vậy nếu không có công nghệ hiện đại, thông tin không truyền đến đợc với
các nhà đầu t, hay trung tâm giao dịch không thể chuyển thông tin cho các CTCK
thì khách hàng bị thua lỗ, CTCK cũng thua lỗ và thị trờng khó có thể hoạt động
lành mạnh đợc. Ngay trong nội bộ một công ty, việc trang bị công nghệ để thông
tin giữa các phòng ban, nhân viên cũng là một yếu tố tác động không nhỏ tới hiệu
quả hoạt động của công ty. ở những nớc có thị trờng chứng khoán phát triển, công
nghệ của họ vô cùng hiện đại vì vậy họ có thể mở rộng thị trờng, rút ngắn mọi
khoảng cách giữa các quốc gia và làm cho nền kinh tế thế giới phát triển hơn. Còn
đối với một thị trờng chứng khoán mới đi vào hoạt động cha lâu nh ở nớc ta thì vấn
đề công nghệ có ảnh hởng rất lớn và là yếu tố cần thiết hiện nay cho các CTCK để
có thể phát triển các hoạt động của mình.
1.5.1.5. Kiểm soát nội bộ
Nguyên tắc bảo mật thông tin của các CTCK là một nguyên tắc sẽ quyết định
yếu tố thắng lợi trong cạnh tranh của công ty. Vì vậy công tác kiểm soát nội bộ là
rất cần thiết. Tất nhiên không phải chỉ có thông tin mới cần kiểm soát, ngay từ các
quy trình hoạt động, các thủ tục tiến hành hoạt động của CTCK đều phải đợc kiểm
soát chặt chẽ để đảm bảo không vi phạm pháp luật và nâng cao chất lợng hoạt động
của công ty. Để lộ thông tin hay vi phạm pháp luật đều dẫn đến kết quả là công ty
sẽ thất bại trọng hoạt động kinh doanh.
1.5.2. Yếu tố bên ngoài.
1.5.2.1. Sự phát triển của nền kinh tế
Thị trờng chứng khoán là một bộ phận của thị trờng tài chính của một quốc
gia hay nói rộng ra nó là một bộ phận của nền kinh tế. Vì vậy sự phát triển của nền
kinh tế có ảnh hởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của thị trờng chứng khoán.
Và dĩ nhiên CTCK cũng chịu sự tác động rất nhiều của nền kinh tế. Nếu kinh tế
phát triển các doanh nghiệp sẽ thu hút đợc nhiều lợi nhuận, họ mong muốn đợc mở
rộng sản xuất kinh doanh. Do đó họ cần vốn và phơng pháp hữu hiệu để có nguồn
vốn trung và dài hạn là huy động trên thị trờng chứng khoán. Khi đó họ đã trở
thành những nhà phát hành. Nếu là cá nhân bạn có thể dùng thu nhập nhiều hơn do
kinh tế phát triển để đầu t chứng khoán thu lợi nhuận. Tất cả những hoạt động đó
13
CTCK đều có thể đứng ra thực hiện cho họ vì đó là chức năng của CTCK. CTCK
phát triển sẽ thúc đẩy thị trờng chứng khoán phát triển và thị trờng chứng khoán lại
thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Đó là ảnh hởng tích cực. Ngợc lại, nếu kinh tế
không phát triển mọi điều trên không xảy ra, không có nhà đầu t thì không có thị tr-
ờng và cũng không có CTCK.
1.5.2.2. Yếu tố pháp lý
Đây là yếu tố không thể thiếu đối với thị trờng chứng khoán nói chung và với
CTCK nói riêng. Nh mọi doanh nghiệp khác trong nền kinh tế, CTCK cần phải tuân
thủ pháp luật của mỗi quốc gia mà trong đó nó đợc thành lập. Có thể coi yếu tố
pháp lý ở đây là những luật định của các cơ quan quản lý và giám sát thị trờng
chứng khoán của mỗi quốc gia. Họ có quyền cao nhất trong việc ra các quyết định
đối với thị trờng và vì vậy những quyết định đó có ảnh hởng trực tiếp tới thị trờng.
Nếu họ thay đổi một số quy định, giả sử về thủ tục phát hành,về phiên giao dịch, về
hình thức khớp lệnh hay về thuế một cách tiêu cực hay tích cực đều có những tác
động tơng ứng ngay tới các CTCK. CTCK sẽ hoạt động thuận tiện hơn, có hiệu quả
hơn hay sẽ bị bó buộc, làm ăn thua lỗ một phần phụ thuộc vào yếu tỗ pháp lý do
các cơ quan quản lý và giám sát thị trờng ban hành.
1.5.2.3. Sự phát triển của thị trờng chứng khoán.
CTCK không thể tồn tại và tách rời khỏi thị trờng chứng khoán. Sự phát triển
của thị trờng chứng khoán ở đây là sự phát triển cả cung và cầu chứng khoán, các
thành viên tham gia thị trờng và sự phát triển của các trung gian tài chính và các
hoạt động khác. Một thị trờng không có hàng hoá thì không tồn tại vì không có gì
để mua và bán. Nếu thị trờng chứng khoán không phát triển thì CTCK cũng không
phát triển đợc vì CTCK là một chủ thể chính tham gia trên thị trờng chứng khoán.
Thị trờng chứng khoán phát triển cùng với hệ thống công bố thông tin, hệ thống
đăng ký, hệ thống công bố công khai của nó đã cung cấp cho các nhà đầu t các
thông tin đầy đủ và chính xác liên quan đến chứng khoán, tăng độ tin cậy cho thị tr-
ờng và giải quyết vấn đề thông tin không cân xứng và rủi ro đạo đức. Từ đó, các
nhà đầu t có niềm tin để tham gia đầu t, mà CTCK là cầu nối cho họ.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét