Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân ODA giai đoạn 2001-2005 tại Việt Nam

trường.
-ODA thường được thực hiện qua hai kênh giao dịch là kênh song phương và
kênh đa phương. Kênh song phương, quốc gia tài trợ cung cấp ODA trực tiếp cho
chính phủ quốc gia được tài trợ. Kênh đa phương , các tổ chức quốc tế hoạt động
nhờ các khoản đóng góp của nhiều nước thành viên cung cấp ODA cho quốc gia
được viện trợ. Đối với các nước thành viên thì đây là cách cung cấp ODA gián tiếp.
-ODA là một giao dịch chính thức. Tính chính thức của nó được thể hiện ở chỗ
giá trị của nguồn ODA là bao nhiêu, mục đích sử dụng là gì phải được sự chấp thuận và
phê chuẩn của chính phủ quốc gia tiếp nhận. Sự đồng ý tiếp nhận đó được thể hiện
bằng văn bản, hiệp định, điều ước quốc tế ký kết với nhà tài trợ.
-ODA được cung cấp với mục đích rõ ràng. Mục đích của việc cung cấp ODA
là nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của các nước nghèo. Đôi lúc ODA
cũng được sử dụng để hỗ trợ các nước gặp hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như khủng
hoảng kinh tế, thiên tai, dịch bệnh Do đó, có lúc các nước phát triển cũng được
nhận ODA. Nhưng không phải lúc nào mục đích này cũng được đặt lên hàng đầu,
nhiều khi các nhà tài trợ thường áp đặt điều kiện của mình nhằm thực hiện những
toan tính khác.
-ODA có thể được các nhà tài trợ cung cấp dưới dạng tài chính, cũng có khi là
hiện vật. Hiện nay, ODA có ba hình thức cơ bản là viện trợ không hoàn lại (Ggant
Aid), vốn vay ưu đãi ( Loans Aid ) và hình thức hỗn hợp.
2-Phân loại ODA
2.1-Phân loại theo tính chất
-ODA không hoàn lại : Đây là nguồn vốn ODA mà nhà tài trợ cấp cho các
nước nghèo không đòi hỏi phải trả lại. Cũng có một số nước khác được nhận loại
ODA này khi gặp phải các vấn đề nghiêm trọng như thiên tai, dịch bệnh
Đối với các nước đang phát triển, nguồn vốn này thường được cấp dưới dạng các
dự án hỗ trợ kỹ thuật, các chương trình xã hội hoặc hỗ trợ cho công tác chuẩn bị dự án.
ODA không hoàn lại thường là các khoản tiền nhưng cũng có khi là hàng hoá, ví dụ
như lương thực, thuốc men hay một số đồ dùng thiết yếu.
ODA không hoàn lại thường ưu tiên và cung cấp thường xuyên cho lĩnh vực
Trang 5
giáo dục, y tế. Các nước Châu Âu hiện nay dành một phần khá lớn ODA không
hoàn lại cho vấn đề bảo vệ môi trường, đặc biệt là bảo vệ rừng và các loài thú quý.
-ODA vốn vay ưu đãi : đây là khoản tài chính mà chính phủ nước nhận phải
trả nước cho vay, chỉ có điều đây là khoản vay ưu đãi. Tính ưu đãi của nó được thể
hiện ở mức lãi suất thấp hơn lãi suất thương mại vào thời điểm cho vay, thời gian
vay kéo dài, có thể có thời gian ân hạn. Trong thời gian ân hạn, nhà tài trợ không
tính lãi hoặc nước đi vay được tính một mức lãi suất đặc biệt. Loại ODA này
thường được nước tiếp nhận đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng xã hội như xây
dựng đường xá, cầu cảng, nhà máy Muốn được nhà tài trợ đồng ý cung cấp, nước
sở tại phải đệ trình các văn bản dự án lên các cơ quan có thẩm quyền của chính phủ
nước tài trợ. Sau khi xem xét khả thi và tính hiệu quả của dự án, cơ quan này sẽ đệ
trình lên chính phủ để phê duyệt. Loại ODA này chiếm phần lớn khối lượng ODA
trên thế giới hiện nay.
-Hình thức hỗn hợp : ODA theo hình thức này bao gồm một phần là ODA
không hoàn lại và một phần là ODA vốn vay ưu đãi. Đây là loại ODA được áp
dụng phổ biến trong thời gian gần đây. Loại ODA này được áp dụng nhằm mục
đích nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn này.
2.2-Phân loại theo mục đích:
-Hỗ trợ cơ bản: là những nguồn lực được cung cấp để đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng kinh tế - xã hội và môi trường. đây thường là những khoản cho vay ưu đãi.
-Hỗ trợ kỹ thuật : là những nguồn lực dành cho chuyển giao tri thức, công
nghệ, xây dựng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu tiền đầu tư
phát triển thể chế và nguồn nhân lực Loại hỗ trợ này chủ yếu là viện trợ không
hoàn lại.
2.3-Phân loại theo điều kiện :
-ODA không ràng buộc : Là việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc bởi
nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng.
-ODA có ràng buộc :
+Ràng buộc bởi nguồn sử dụng: Có nghĩa là nguồn ODA được cung cấp dành
để mua sắm hàng hoá, trang thiết bị hay dịch vụ chỉ giới hạn cho một số công ty do
Trang 6
nước tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát ( đối với viện trợ song phương ), hoặc công ty
của các nước thành viên (đối với viện trợ đa phương).
+Ràng buộc bởi mục đích sử dụng: Nghĩa là nước nhận viện trợ chỉ được cung
cấp nguồn vốn ODA với điều kiện là phải sử dụng nguồn vốn này cho những lĩnh
vực nhất định hay những dự án cụ thể.
-ODA ràng buộc một phần: Nước nhận viện trợ phải dành một phần ODA chi
ở nước viện trợ (như mua sắm hàng hoá hay sử dụng các dịch vụ của nước cung cấp
ODA), phần còn lại có thể chi ở bất cứ đâu.
2.4-Phân loại theo hình thức:
-Hỗ trợ dự án: Đây là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án cụ
thể. Nó có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho không hoặc cho
vay ưu đãi.
-Hỗ trợ phi dự án: Là loại ODA được nhà tài trợ cung cấp trên cơ sở tự nguyện.
Nhận thức về các vấn đề bức xúc ở nước sở tại, nhà tài trợ yêu cầu chính phủ
nước sở tại được viện trợ nhằm tháo gỡ những khó khăn đó. Khi được chính phủ
chấp thuận thì việc viện trợ được tiến hành theo đúng thoả thuận của hai bên. Loại
ODA này thường được cung cấp kèm theo những đòi hỏi từ phía chính phủ nước tài
trợ. Do đó, chính phủ nước này phải cân nhắc kỹ các đòi hỏi từ phía nhà tài trợ xem
có thoả đáng hay không. Nếu không thoả đáng thì phải tiến hành đàm phán nhằm
dung hoà điều kiện của cả hai phía. Loại ODA này thường có mức không hoàn lại
khá cáo, bao gồm các loại hình sau:
+Hỗ trợ cán cân thanh toán: Trong đó thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp
(chuyển giao tiền tệ) hoặc hỗ trợ hàng hoá, hay hỗ trợ xuất nhập khẩu. Ngoại tệ
hoặc hàng hoá được chuyển vào qua hình thức này có thể được sử dụng để hỗ trợ
cho ngân sách.
+Hỗ trợ trả nợ: Nguồn ODA cung cấp dùng để thanh toán những món nợ mà
nước nhận viện trợ đang phải gánh chịu.
+Viện trợ chương trình: Là khoản ODA dành cho một mục đích tổng quát với
thời gian xác định mà không phải xác định chính xác nó sẽ được sử dụng như thế
nào.
3-Nguồn gốc lịch sử của ODA
Trang 7
Sau Đại chiến thế giới lần thứ II, nền kinh tế thế giới lâm vào tình trạng khủng
hoảng nghiêm trọng. Nhiều nước tham chiến bị thiệt hại nặng nề về cả người và của.
Với mục đích vực dậy nền kinh tế thế giới, nhiều tổ chức tài chính quốc tế đã được
thành lập vào thời kỳ này. Một trong những kế hoạch tái thiết kinh tế lúc đó là kế
hoạch Marshall, tiền thân của hình thức hỗ trợ phát triển chính thức sau này, có mục
đích là hỗ trợ các nước châu Âu khôi phục lại nền kinh tế đã bị chiến tranh tàn phá.
Ngày 14-12-1960, tại Paris, Tổ chức hợp tác kinh tế châu Âu (OEEC ), tiền thân của
tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) được thành lập để thực hiện kế
hoạch Marshall. Các nước tham dự hội nghị Paris đã thống nhất mục tiêu của Tổ
chức hợp tác kinh tế châu Âu gồm:
-Cải thiện mức sống và điều kiện lao động của các nước thành viên.
-Đạt được tốc độ phát triển kinh tế cao và bền vững, duy trì sự ổn định về tài
chính.
-Hỗ trợ các nước khác đặc biệt là các nước thành viên và các nước chịu sự tàn
phá nặng nề sau chiến tranh trong quá trình phát triển kinh tế.
-Tăng cường phát triển thương mại quốc tế dựa trên cơ sở đa phương.Tổ chức
này ban đầu có 19 thành viên gồm có Áo, Bỉ, Canađa, Đan Mạch, Pháp, Đức, Hy
Lạp, Aixơlen, Ý , Lucxămbua, Hà Lan, Na Uy, Bồ Đào Nha, Thụy Sỹ, Thụy Điển,
Thổ Nhĩ Kỳ, Anh và Mỹ. Các nước gia nhập thêm sau đó là Nhật Bản (năm 1964),
Phần Lan (năm 1969), Ôxtrâylia (năm 1971), Niuzilân (năm1973) và Mêhicô (năm
1994).
OECD thành lập nhiều uỷ ban để phân chia quyền hạn và nhiệm vụ trong hoạt
động của mình. Một trong số đó là Ủy ban hỗ trợ phát triển (DAC). Đây là ủy ban
chuyên cung cấp ODA dạng tài chính cho các nước đang phát triển. Thành viên của
ủy ban này gồm có Mỹ, Nhật Bản, Pháp, Đức, Hà Lan, Vương Quốc Anh, Canađa,
Thụy Điển, Đan Mạch, Ý, Na Uy, Ôxtrâylia, Thụy Sỹ, Tây Ban Nha, Bỉ, Áo, Phần
Lan, Bồ Đào Nha, Ailen, Niuzilân, Luxcămbua và Ủy ban châu Âu.
Ban đầu, OECD chỉ tập trung viện trợ cho các nước tham chiến trong chiến
tranh thế giới thứ II và các nước bị chiến tranh tàn phá. Sau khi kinh tế các nước này
đã được phục hồi, việc viện trợ được mở rộng ra các quốc gia khác với mục đích
thúc đẩy sự phát triển kinh tế trên toàn thế giới.
Trang 8
Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, các nước đang phát triển thuộc phe Xã hội chủ
nghĩa trong đó có Việt Nam hầu như không nhận được sự viện trợ trực tiếp từ các
nước thuộc DAC mà chỉ nhận gián tiếp thông qua các tổ chức phi chính phủ và Liên
Hợp Quốc. Việt Nam trong nhiều năm liền chủ yếu nhận viện trợ từ Liên Xô và các
nước Đông Âu. Thời kỳ này việc cung cấp ODA chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi yếu
tố chính trị.
Sau khi Liên Xô và hệ thống Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã, các nước Xã
hội chủ nghĩa khác đã phải tiến hành cải cách chính trị cho phù hợp với tình hình
mới, các nước tư bản đã nối lại viện trợ cho Việt Nam, Trung Quốc và Cuba. Nhìn
chung hiện nay, vấn đề chính trị không còn ảnh hưởng nhiều tới việc cung cấp ODA nữa.
Nhờ những cải cách mang tính chất tích cực, nước ta nhận được sự ủng hộ ngày càng lớn
của cộng đồng các nhà tài trợ.
Trong những năm qua, hoạt động của viện trợ chính thức đã góp nhiều công
sức cho việc phát triển kinh tế toàn thế giới và giảm khoảng cách giàu nghèo giữa
các quốc gia. Một số nước đã vươn lên từ đói nghèo và lạc hậu như Nhật Bản, Hàn
Quốc, Mêhicô đã chứng minh cho những thành công của ODA trên thế giới. Bên
cạnh đó, ODA trong những năm qua còn bộc lộ nhiều khiếm khuyết. Tuy vậy nó
vẫn đóng vai trò quan trọng trong con đường phát triển của toàn nhân loại.
4- Vai trò của ODA đối với các nước đang phát triển:
Trong mỗi xã hội luôn tồn tại sự hoạt động của các ngành, các lĩnh vực không
sinh lợi. Chẳng hạn như trong lĩnh vực môi trường, các công nhân thu dọn vệ sinh
có thể bị coi là "ăn bám" xã hội bởi lẽ công việc của họ chẳng làm ra một đồng của
cải nào cho xã hội cả. Thế nhưng chỉ thiếu họ một tuần hay một ngày thôi thì mùi xú
uế sẽ bốc lên nồng nặc cả thành phố. Có hay không tồn tại của một công viên cây
xanh cũng chẳng phải là vấn đề sống còn của bất cứ ai, nhưng nếu không có nó thì
mọi người sẽ không có chỗ nghỉ ngơi, giải trí sau những giờ làm việc căng thẳng.
Đây là những lĩnh vực mà tư nhân hầu như không quan tâm đầu tư mặc dù nó giữ
vai trò thiết yếu đối với bất kỳ xã hội hiện đại nào ngày nay. Bởi vì lĩnh vực này
không sinh lời, nếu có thì cũng cần thời gian thu hồi vốn lâu. Hãy thử tưởng tượng
một thành phố không có bóng dáng công nhân quét rác hay một công viên cây xanh
thì điều gì sẽ xảy ra. Chắc chắn, người ta sẽ không chịu nổi sự ô nhiễm môi trường
Trang 9
nặng nề mà chính họ là nguyên nhân gây ra.
Môi trường không sinh lợi đã đành, ngay cả những lĩnh vực có sinh lợi nhưng
hiệu quả kinh tế chậm như giao thông, thuỷ lợi, điện, nước cũng chẳng có cá nhân
nào dám bỏ tiền ra để xây dựng. Vì nó đòi hỏi vốn lớn và thời gian thu hồi chậm.
Do đó các công trình cộng cộng thường phải do Nhà nước đầu tư thực hiện.
Thế nhưng, Chính phủ các nước đang phát triển lại gặp rất nhiều khó khăn
trong việc đầu tư vào các lĩnh vực công cộng. Đây hầu hết là các nước nghèo, đời
sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Do đó, có rất ít vốn tích lũy cho đầu tư phát
triển. Dân nghèo thì số tiền thu ngân sách cũng không được là bao, không đủ để xây
dựng các công trình công cộng, hạ tầng kỹ thuật. Các quốc gia đang phát triển hầu
hết đều đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp, cơ sở vật chất, kỹ thuật lạc hậu. Vì
vậy vấn đề phát triển cơ sở hạ tầng để đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước đang trở lên hết sức cấp bách.
Xu hướng quốc tế hoá nền kinh tế thế giới đang là điều kiện bắt buộc các nước
đang phát triển phải tìm mọi cách nâng cao hiệu quả, tính cạnh tranh của nền kinh tế
và vấn đề thiếu vốn đang là trở ngại lớn nhất trên con đường tìm kiếm sự phát triển
của các nước này. Hàng năm, với tinh thần nhân đạo cao cả, các nước phát triển đã
cung cấp một khối lượng ODA đáng kể trị giá hàng trăm tỷ USD cho các quốc gia
đang phát triển. khối lượng ODA đó có vai trò rất quan trọng đối với các nước này,
nó cho phép họ có một khoản tiền để giải quyết một số vấn đề cấp thiết, và đầu tư
vào hạ tầng cơ sở, các công trình công cộng.
Có thể nói, một hệ thống cơ sở hạ tầng tốt sẽ là nền tảng cho sự phát triển của
một đất nước. Tuy nhiên, hầu hết các nước đang phát triển có hệ thống cơ sở hạ
tầng lạc hậu, không đáp ứng được nhu cầu cho phát triển kinh tế. Hiện nay, xu
hướng chung của các nước đang phát triển là tìm cách thu hút nguồn vốn đầu tư
nước ngoài (FDI và ODA), bổ sung cho nguồn vốn eo hẹp trong nước. Nguồn vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), có ưu điểm là khối lượng vốn đầu tư lớn và nước
tiếp nhận không phải chịu gánh nặng nợ nần. Nhưng nếu muốn thu hút được nhiều
nguồn vốn FDI thì đòi hỏi các nước đang phát triển phải có một hệ thống cơ sở hạ
tầng tốt, một môi trường kinh doanh thuận lợi. Đây là những yếu tố mà các nước
đang phát triển còn thiếu. Nếu chỉ thu hút riêng vốn FDI thì không đủ nhu cầu ngày
Trang 10
càng cao về vốn cho phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, phải thu hút nguồn vốn ODA
để bổ sung nhu cầu về vốn. ODA có ưu điểm là nước tiếp nhận được chủ động trong
việc sử dụng nguồn vốn này vào những lĩnh vực mà mình quan tâm. Ngoài việc sử
dụng vốn ODA để giải quyết các vấn đề khác của đất nước thì ODA có thể tập trung
cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, làm cho môi trường kinh doanh thuận lợi hơn.
Điều này sẽ góp phần tích cực tăng khả năng thu hút nguồn vốn FDI của các nước
đang phát triển.
II- SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG THU HÚT VÀ ĐẨY
NHANH TIẾN ĐỘ GIẢI NGÂN NGUỒN VỐN ODA ĐỂ PHÁT TRIỂN
NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
1-Một số hình thức chủ yếu của ODA ở Việt Nam
1.1-Hỗ trợ theo chương trình
Hình thức này thường tập trung giải quyết các vấn đề xã hội như y tế, giáo dục
và các vấn đề xã hội khác Các chương trình thường được phía nhà tài trợ chủ động
đề xuất.
Đối với lĩnh vực y tế, một số chương trình chủ yếu của hình thức này là
chương trình bảo vệ sức khoẻ sinh sản, chương trình tiêm chủng cho trẻ sơ sinh,
chương trình kế hoạch hoá gia đình, chương trình thanh toán một số bệnh xã hội,
xây mới và cải tạo hệ thống trạm xá, chương trình phẫu thuật nụ cười, chương trình
cấp thuốc miễn phí cho một số vùng sâu, vùng xa Các chương trình hỗ trợ cho
ngành y tế thường mang tính nhân đạo cao và rất được sự quan tâm của các tổ chức
quốc tế.
Đối với lĩnh vực giáo dục, một số hình thức chủ yếu là xây mới và cải tạo
trường học cho một số tỉnh gặp khó khăn, chương trình cấp học bổng cho sinh viên
đại học, chương trình đào tạo đại học và sau đại học
Ngoài ra hình thức này còn bao gồm nhiều chương trình khác như chương
trình xoá đói giảm nghèo, chương trình cấp cây và con giống cho bà con nông dân,
chương trình nước sạch nông thôn
Đối với Việt Nam, hình thức ODA hỗ trợ theo chương trình khá quan trọng,
Trang 11
nó đảm bảo cho chúng ta một sự phát triển hài hoà, bền vững. Tuy vậy khối lượng
ODA thời gian qua dành cho hình thức này chưa nhiều, mới chỉ giải quyết được một
số vấn đề cấp bách nhất. Do đó, trong thời gian tới chúng ta phải tăng cường thu hút
ODA hỗ trợ cho các chương trình.
1.2-Hỗ trợ theo dự án
Hình thức này khá phổ biến ở Việt Nam thời gian qua. Hỗ trợ theo dự án thường
được thực hiện bằng nguồn vốn vay ưu đãi và hỗn hợp. Các dự án thường phải đáp ứng
được một số yêu cầu từ phía các nhà tài trợ. Hình thức này thường phổ biến ở lĩnh vực
xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật như giao thông, thủy lợi, năng lượng; cơ sở hạ tầng xã
hội và lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp.
Khối lượng ODA dành cho hỗ trợ dự án là rất lớn, chiếm phần lớn lượng vốn
mà các nhà tài trợ cam kết dành cho Việt Nam kể từ năm 1993 đến nay. Đây là hình
thức rất quan trọng bởi vì nó góp phần tạo đựng cơ sở vật chất thúc đẩy nền kinh tế
nước ta phát triển.
1.3-Hỗ trợ cán cân thanh toán
Chi ngân sách của nước ta thời gian qua thường lớn hơn thu hàng chục ngàn tỷ
đồng mỗi năm. Bội chi ngân sách cũng là tình trạng chung của các nước đang phát
triển. Các nhà tài trợ đã sử dụng hình thức hỗ trợ cán cân thanh toán như một công
cụ để giữ vững sự ổn định của thị trường tài chính quốc tế và giúp đỡ một phần
chính phủ các nước đang phát triển giảm nhẹ gánh nặng bội chi ngân sách. Hình
thức này chưa phát triển ở Việt Nam và chủ yếu được thực hiện bằng các khoản vay
ưu đãi nhỏ.
1.4-Hỗ trợ kỹ thuật
Đây là một hình thức ODA quan trọng, đặc biệt là đối với những nước có trình
độ kỹ thuật lạc hậu như Việt Nam. Hình thức này được thực hiện dưới dạng các
chương trình hợp tác kỹ thuật như: chương trình cử chuyên gia, chương trình đào
tạo cán bộ kỹ thuật, chương trình cung cấp trang thiết bị Thời gian qua, các
chương trình này đã đóng góp một phần quan trọng vào việc nâng cao trình độ của
đội ngũ cán bộ kỹ thuật và đẩy nhanh quá trình chuyển giao công nghệ ở Việt Nam.
2-Sự cần thiết phải tăng cường thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải ngân
Trang 12
nguồn vốn ODA để phát triển nền kinh tế Việt Nam
Đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp, đất nước ta còn nghèo nàn và lạc hậu,
hiện nay chúng ta chưa có đủ các tiền đề cần thiết cho một sự phát triển bền vững.
Để phát triển nền kinh tế với tốc độ nhanh trong khi nền kinh tế nhỏ bé đang
thiếu vốn nghiêm trọng và tiết kiệm trong nước còn quá thấp thì cần phải bổ sung
vốn đầu tư bằng khối lượng lớn nguồn vốn nước ngoài. Huy động vốn nước ngoài
rất cần thiết để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển nền kinh tế để
hoà nhập với kinh tế thế giới, trong đó tranh thủ vốn ODA là một chủ trương lớn
của nước ta từ giai đoạn mở cửa.
Các công trình thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng của nước ta hiện nay đã xuống cấp
nghiêm trọng, không thể duy trì phát triển kinh tế lâu dài. Hệ thống giao thông
đường bộ chắp vá. Để nâng cấp, cải tạo hệ thống giao thông quốc gia xuyên suốt từ
nay đến năm 2005, mỗi năm chúng ta cần hàng chục ngàn tỷ đồng, đó là chưa kể
đến hệ thống giao thông nội tỉnh. Hệ thống giao thông đường thủy được xây dựng
từ nhiều năm nay lại không được quan tâm bảo dưỡng hàng năm nên không thể đáp
ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hoá. Muốn phục vụ tốt cho xuất khẩu thì trước
mắt phải nâng cấp một số cảng quan trọng như cảng Sài Gòn, cảng Hải Phòng,
cảng Đà Nẵng; phải xây mới và nâng cấp các cầu cảng và hệ thống kho bãi của các
cảng này. Hệ thống sân bay cũng cần được cải tạo hàng năm cho phù hợp với nhu
cầu. Hệ thống thông tin liên lạc đã phát triển rất nhanh thời gian qua cần tiếp tục
phát huy và có một số đổi mới cho thích hợp hơn. Mỗi ngành này cũng cần đầu tư
hàng trăm, hàng ngàn tỷ đồng.
Bên cạnh đó, các vấn đề cũ còn tồn tại và các vấn đề xã hội mới nảy sinh cũng
đòi hỏi phải có nguồn lực để giải quyết. Một xã hội không thể phát triển bền vững
nếu trẻ em không được đi học, người già và người tàn tật không được chăm sóc,
bệnh dịch không được thanh toán Do đó phát triển con người là chiến lược của
Đảng ta trong công cuộc phát triển kinh tế. Để giải quyết những vấn đề đó mỗi năm
chính phủ phải chi hàng chục ngàn tỷ đồng.
Hiện nay các khoản thu của ngân sách không đủ đáp ứng các nhu cầu trên.
Thuế là nguồn thu chủ yếu nhưng mỗi năm vẫn bị thất thu một số lượng lớn. Năm
1999 tổng thu ngân sách của Nhà nước khoảng trên 70.000 tỷ đồng trong khi tổng
Trang 13
các khoản chi xấp xỉ 90.000 tỷ đồng. Như vậy chúng ta phải bù đắp bội chi ngân
sách khoảng 20.000 tỷ đồng. Do đó, việc thu hút nguồn lực bên ngoài sẽ giúp chính
phủ trong việc giảm bội chi ngân sách.
Kể từ năm 1987, các công ty nước ngoài được phép chính thức hoạt động tại
Việt Nam. Khối lượng vốn của các công ty này đã giúp đỡ rất nhiều cho chính phủ
trong việc khắc phục tình trạng thiếu vốn. Chính nhờ quyết định mở cửa này, nền
kinh tế Việt Nam đã có bước tăng trưởng vượt bậc trong hơn 10 năm qua, quan hệ
sản xuất tỏ ra phù hợp hơn, lực lượng lao động được giải phóng, nến kinh tế trong
nước phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu, về cơ bản nền kinh tế đã thoát khỏi cuộc
khủng hoảng kéo dài hàng chục năm qua. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò
rất lớn trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước, tuy nhiên bên cạnh đó nó cũng
bộc lộ những mặt hạn chế. Nhà đầu tư chỉ quan tâm bỏ vốn đầu tư vào những lĩnh
vực có khả năng sinh lợi và hiệu quả kinh tế nhanh. Điều này đã gây ra sự phát triển
mất cân đối trong nền kinh và không thực hiện được nhiều mục tiêu kinh tế-xã hội
khác. Ngoài ra còn có nguy cơ mất ổn định nền kinh tế, cuộc khủng hoảng tài chính
năm 1997 vừa qua của các nước khu vực Đông Nam Á là một minh chứng cụ thể.
Trước tình hình đó, Chính phủ Việt Nam đã nhận thức rõ tầm quan trọng đặc
biệt của nguồn vốn ODA đối với tiến trình phát triển nền kinh tế- xã hội của đất
nước. Do đó, phải tăng cường khả năng thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn
này. Hiện nay, việc giải ngân chậm đang là một tồn tại rất lớn cần sớm được khắc
phục.
Thời gian qua, Việt Nam đã khá thành công trong việc vận động, thu hút
nguồn vốn ODA thông qua việc tổ chức Hội nghị các nhà tài trợ (CG). Kết quả của
những nỗ lực trên là 15,14 tỷ USD vốn ODA mà cộng đồng các nhà tài trợ đã cam
kết dành cho Việt Nam trong giai đoạn 1993-1999. Tuy nhiên, muốn có được số vốn
này để đầu tư vào các chương trình, dự án thì còn là một quá trình từ xác định dự
án, chuẩn bị dự án, thẩm định dự án, đàm phán vay vốn và phê duyệt khoản vay cho
tới thực hiện dự án. Có thể hiểu, để đưa những đồng vốn ODA mà các nhà tài trợ đã
cam kết vào thực hiện các chương trình, dự án chính là quá trình giải ngân vốn
ODA. Như vậy, muốn tận dụng tốt nguồn vốn ODA, biến những cam kết của các
nhà tài trợ thành hiện thực, chúng ta phải giải quyết triệt để những yếu tố gây cản
Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét