Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014
Nghiên cứu về định giá tài sản và xác định lợi nhuận trên báo cáo tài chính theo ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế và ủy ban chuẩn mực định giá quốc tế
Cụ thể, các phương pháp đònh giá tài sản vẫn có những quy đònh
chưa hoàn chỉnh trong từng trường hợp cụ thể, vẫn còn sự trùng lắp, hay
mâu thuẫn giữa các quy đònh gây khó khăn cho việc lập và trình bày báo
cáo tài chính.
Bên cạnh đó, việc xác đònh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp hiện nay vẫn chòu sự chi phối trực tiếp bởi luật thuế thu nhập
doanh nghiệp, các doanh nghiệp vẫn chưa phân biệt rõ ràng giữa việc xác
đònh lợi nhuận theo mục tiêu tài chính và việc xác đònh lợi nhuận theo
mục tiêu tính thuế. Đa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều cho rằng lợi
nhuận theo mục tiêu tính thuế hay lợi nhuận chòu thuế mới chính là lợi
nhuận được các đối tượng sử dụng thông tin kế toán bên ngoài doanh
nghiệp chấp nhận, còn lợi nhuận theo mục tiêu tài chính hay lợi nhuận kế
toán là thông tin chỉ sử dụng trong nội bộ doanh nghiệp
.
Hệ thống báo cáo tài chính trong hệ thống kế toán Việt nam hiện
nay về cơ bản đã có những thay đổi phù hợp với nhu cầu thông tin của các
đối tượng sử dụng. Tuy nhiên, việc đònh giá tài sản và xác đònh kết quả
hoạt động kinh doanh được ghi nhận trên các báo cáo tài chính vẫn chưa
được xác lập một cách rõ ràng và cụ thể để có thể đáp ứng một cách đầy
đủ yêu cầu thông tin đa dạng của các đối tượng trong nền kinh tế thò
trường cũng như sự phù hợp với hệ thống các nguyên tắc kế toán được
chấp nhận rộng rãi và các chuẩn mực kế toán quốc tế.
Đứng trước thực trạng này, chúng tôi nhận thấy rằng việc nghiên
cứu nhằm hoàn thiện các quy đònh hướng dẫn cho việc lập và trình bày các
báo cáo tài chính liên quan đến vấn đề đònh giá phục vụ cho nhu cầu
thông tin cần thiết của các đối tượng sử dụng trong mối quan hệ với việc
xác đònh và phân biệt kết quả hoạt động kinh doanh theo mục tiêu tài
chính và mục tiêu tính thuế thực sự là một trong những nhu cầu cấp thiết
nhằm hoàn thiện hơn hệ thống kế toán Việt nam hiện nay cũng như trong
thời gian sắp tới. Từ nhận đònh đó, chúng tôi đã chọn đề tài:
“Đònh giá tài sản và xác đònh lợi nhuận trên các báo cáo tài chính.”
2. Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đề tài nghiên cứu hướng đến các mục tiêu chính:
- Xác đònh rõ mối quan hệ giữa việc chọn lựa các phương pháp đònh giá tài
sản và xác đònh lợi nhuận trên báo cáo tài chính và nhu cầu thông tin của
các đối tượng sử dụng trong lý luận và thực tiễn.
- Hoàn thiện các nội dung trong hệ thống kế toán Việt nam liên quan đến
vấn đề đònh giá tài sản nhằm nâng cao chất lượng của báo cáo tài chính
đáp ứng nhu cầu của các đối tượng sử dụng.
- Xác đònh rõ sự khác biệt giữa lợi nhuận kế toán theo mục tiêu tài chính
và lợi nhuận kế toán theo mục tiêu tính thuế.
- Thiết lập các báo cáo kết quả kinh doanh tách biệt giữa mục tiêu tài
chính và mục tiêu tính thuế.
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghò cụ thể có liên quan việc đònh giá tài
sản và xác đònh lợi nhuận trên báo cáo tài chính.
* Đối tượng nghiên cứu:
Luận án nghiên cứu các phương pháp đònh giá tài sản và xác đònh lợi
nhuận trên các báo cáo tài chính trong hệ thống kế toán doanh nghiệp
Việt nam để đáp ứng nhu cầu thông tin cần thiết của các đối tượng sử
dụng khác nhau trong nền kinh tế thò trường.
* Phạm vi của đề tài tập trung nghiên cứu 2 vấn đề chính:
- Việc đònh giá tài sản trình bày trên bảng cân đối kế toán của doanh
nghiệp. Đề tài không đi vào nghiên cứu việc đánh giá tài sản doanh
nghiệp nói chung.
- Lợi nhuận kế toán với 2 dữ liệu đầu ra là lợi nhuận theo mục tiêu tài
chính và lợi nhuận theo mục tiêu tính thuế trên báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.
3. Phương pháp nghiên cứu:
- Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng chỉ đạo việc nghiên cứu.
- Sử dụng phương pháp quy nạp để nghiên cứu các vấn đề lý luận và trình
bày quan điểm về các vấn đề liên quan.
- Sử dụng phương pháp thống kê và phân tích để nghiên cứu các vấn đề
thực tiễn.
- Sử dụng phương pháp tổng hợp đưa ra các đề xuất theo các mục tiêu đã
đònh hướng.
4. Những đóng góp của luận án:
Luận án đã có những đóng góp mới như sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận về tài sản và đònh giá tài sản trên báo cáo tài chính.
- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận về lợi nhuận và xác đònh lợi nhuận theo
mục tiêu tài chính và theo mục tiêu tính thuế.
- Đề xuất sử dụng giá thò trường trong việc đònh giá tài sản trên báo cáo
tài chính, kết hợp với thuyết minh giá gốc nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin
đa chiều của các đối tượng sử dụng.
- Tổng hợp thực trạng, chỉ ra các khiếm khuyết về vấn đề đònh giá tài sản
và xác đònh lợi nhuận trên các báo cáo tài chính trong hệ thống kế toán
hiện nay.
- Thiết lập sự tách biệt giữa bảng kết quả kinh doanh theo mục tiêu tài
chính và theo mục tiêu tính thuế.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện việc đònh giá tài sản và xác đònh lợi
nhuận nhằm nâng cao chất lượng của các báo cáo tài chính và đáp ứng
một cách đầy đủ nhu cầu sử dụng thông tin trong nền kinh tế thò trường.
1 CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN VÀ
XÁC ĐỊNH LI NHUẬN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1 BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ NHU CẦU THÔNG TIN.
1.1.1 Vai trò của kế toán và nhu cầu của người sử dụng thông tin
Vai trò của kế toán là cung cấp các thông tin về kết quả tác động
của các sự kiện, nghiệp vụ kinh tế đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Các thông tin kế toán cung cấp sẽ tạo cầu nối liên kết các nhà
quản lý với các hoạt động của doanh nghiệp cũng như liên kết doanh
nghiệp và môi trường kinh doanh.
Tính hữu dụng của thông tin kế toán trong tiến trình ra quyết đònh
của các đối tượng sử dụng thông tin kế toán đã và đang là một đề tài
nghiên cứu khoa học suốt các thập kỷ qua. Các nghiên cứu thường tập
trung vào sự tác động của các thông tin trình bày trên các báo cáo tài
chính đến quyết đònh kinh tế của các đối tượng sử dụng thông tin. Các
thông tin trình bày trên các báo cáo tài chính chòu ảnh hưởng của 2 nhóm
đối tượng là nội bộ doanh nghiệp, và những người sử dụng bên ngoài
doanh nghiệp.
- Nội bộ doanh nghiệp:
Là những nhà quản lý của doanh nghiệp. Theo từng cấp độ, những
nhà quản lý của một doanh nghiệp là nhóm đối tượng chính sử dụng các
thông tin kế toán. Các nhà quản lý chòu trách nhiệm trong việc hoạch đònh
kế hoạch, thực hiện kế hoạïch và kiểm soát các hoạt động của doanh
nghiệp. Kết quả của công việc quản lý được đo lường thông qua các số
liệu kế toán. Các nhà quản lý doanh nghiệp luôn phải đưa ra các quyết
đònh phù hợp với những kế hoạch, và mục tiêu đã đề ra. Để có những
quyết đònh đúng đắn, họ cần phải có những thông tin có giá trò và kòp thời.
Phần lớn các quyết đònh thường căn cứ vào nguồn thông tin kế toán và sự
phân tích nguồn thông tin này.
- Những người bên ngoài sử dụng thông tin
Những người bên ngoài sử dụng thông tin kế toán có thể chia ra
thành 2 nhóm người:
+ Những người sử dụng thông tin kế toán có quyền lợi trực tiếp về tài
chính:
Là các nhà nhà đầu tư và những người cho vay. Các nhà đầu tư cần
biết các thông tin tài chính về khả năng sinh lợi và rủi ro tiềm tàng liên
quan đến vốn đầu tư. Họ cần những thông tin để xác đònh xem khi nào thì
nên mua, nên giữ lại hay nên bán các khoản đầu tư cũng như các thông tin
về khả năng thanh toán các khoản cổ tức của doanh nghiệp. Những người
cho vay cần những thông tin kế toán về giá trò các tài sản thế chấp nợ vay,
và khả năng thanh toán của doanh nghiệp khi các khoản nợ gốc và lãi vay
đến hạn.
+ Những người sử dụng thông tin kế toán có quyền lợi gián tiếp về tài
chính:
Bao gồm các nhóm người như:
+ Chính phủ và các cơ quan của chính phủ: cần những thông tin kế toán
nhằm kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp, xác đònh các chính sách
thuế, nguồn thu ngân sách và xem đó là cơ sở để thống kê thu nhập quốc
dân cũng như các chỉ tiêu vó mô khác.
+ Các nhà cung cấp và các khách hàng: quan tâm đến những thông tin tài
chính về khả năng thanh toán cũng như khả năng tiếp tục hoạt động của
doanh nghiệp khi họ có những mối liên quan đến hoạt động của doanh
nghiệp.
+ Những nhóm người khác: như những nhà phân tích tài chính và những cố
vấn, người môi giới kinh doanh, báo chí, những nhà nghiên cứu kinh doanh
và công chúng. Họ cần những thông tin tài chính dưới nhiều dạng về xu
hướng phát triển và khả năng tăng trưởng trong các lónh vực hoạt động của
doanh nghiệp.
Tiến trình phát triển và thông đạt những thông tin tài chính cho
những người sử dụng bên ngoài đơn vò thường được gọi là kế toán tài
chính. Những người bên ngoài đơn vò vì sự tách biệt của họ đối với tổ
chức, vì thế họ thường phải dựa vào những báo cáo tài chính của tổ chức
để có được các thông tin cần thiết trong việc thực hiện các quyết đònh.
1.1.2 Báo cáo tài chính và thông tin cần thiết của các đối tượng sử
dụng thông tin.
1.1.2.1 Các đối tượng sử dụng thông tin
Các nhóm đối tượng sử dụng thông tin kế toán với các nhu cầu thông
tin khác nhau làm nảy sinh tính đa dạng và phức tạp đối với nhu cầu thông
tin cần cung cấp.
Sử dụng biểu đồ Venn để diễn giải tính đa dạng của các thông tin kế
toán cần thiết từ các nhóm đối tượng:
- Nhóm đối tượng I: Những người bên ngoài, nhu cầu thông tin cần thiết
thể hiện ở vòng tròn I.
- Nhóm đối tượng II: Nội bộ doanh nghiệp, nhu cầu thông tin cần thiết thể
hiện ở vòng tròn II.
Dựa vào biểu đồ Venn 1.2 trên, các phương pháp cung cấp thông tin trên
các báo cáo tài chính đã được đề xuất và gây nhiều tranh cãi như sau:
Bên
ngoài
Nội bộ
doanh
nghiệp
I
I
+
II
Biểu đồ 1.1- Thông tin kế toán và đối tượng sử dụng
II
Phương pháp 1: Chọn nhu cầu thông tin của nhóm đối tượng I là chính, và
cung cấp thêm các thông tin hỗ trợ cho nhóm II (Vòng tròn I).
Phương pháp 2: Chọn nhu cầu thông tin của nhóm đối tượng II là chính, và
cung cấp thêm các thông tin hỗ trợ cho nhóm I (Vòng tròn II).
Phương pháp 3: Chọn nhu cầu thông tin chung của 2 nhóm đối tượng là
chính (Phần giao nhau của 2 vòng tròn I và II).
1.1.2.2 Báo cáo tài chính và mục tiêu cung cấp thông tin
Phần lớn các báo cáo tài chính hiện nay tại các quốc gia cung cấp
thông tin theo phương pháp I (trọng tâm cung cấp thông tin cho người sử
dụng bên ngoài doanh nghiệp). Các báo cáo tài chính này thường gọi là
các báo cáo tài chính theo mục đích chung, và không nhằm ý đònh đáp
ứng nhu cầu của những người sử dụng đòi hỏi những nhu cầu thông tin cụ
thể của họ. Các báo cáo tài chính theo mục đích chung bao gồm những
báo cáo được trình bày tách biệt hay kèm theo những báo cáo khác như
báo cáo thường niên của doanh nghiệp.
Mục tiêu của những báo cáo tài chính theo mục đích chung là nhằm
thể hiện những tác động về mặt kinh tế của những nghiệp vụ cũng như các
sự kiện đã xảy ra đối với tình trạng tài chính và quá trình hoạt động kinh
doanh của đơn vò. Mặc dù có nhiều cách khác nhau trong việc thể hiện
những thông tin tài chính, tuy nhiên những báo cáo tài chính cho mục đích
chung thường trình bày những thông tin tài chính phù hợp với những quyết
đònh về đầu tư (đối với nhà đầu tư), tín dụng (đối với những chủ nợ), và
những chính sách chung.
Nhằm thực hiện 3 mục tiêu này, các loại báo cáo tài chính thường
được sử dụng là:
- Báo cáo về tình trạng tài chính: Bảng Cân đối Kế toán.
- Những báo cáo về sự thay đổi liên quan đến 1 thời kỳ:
+ Bảng kết quả kinh doanh.
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Những báo cáo tài chính này được bổ sung với nhiều thông tin chi
tiết trên các bảng thuyết minh báo cáo tài chính. Những thông tin bổ sung
trên thuyết minh báo cáo tài chính là một phần không thể tách rời của các
báo cáo tài chính.
1.1.2.3 Sử dụng thông tin trên các báo cáo tài chính
Các quyết đònh kinh tế của các đối tượng sử dụng thông tin kế toán
thường liên quan đến các thông tin trình bày trên các báo cáo tài chính.
- Thông tin trên bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán hay báo cáo về tình hình tài chính là bảng báo
cáo về tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tại một
thời điểm nhất đònh. Mặc dù hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp xảy
ra liên tục, nhưng bảng cân đối kế toán được xem như một “bức ảnh” chụp
lại toàn bộ nguồn lực (tài sản) và nguồn hình thành tạo ra cơ cấu của các
nguồn lực, bao gồm nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tại
một thời điểm.
Bảng cân đối kế toán cung cấp các thông tin tài chính làm cơ sở để
đánh giá năng lực hoạt động, tính linh hoạt tài chính, khả năng thanh toán,
và khả năng sinh lợi của các tài sản.
- Đánh giá năng lực hoạt động: căn cứ vào các nguồn lực kinh tế mà
doanh nghiệp có thể sử dụng trong các hoạt động hàng ngày. Các khoản
mục tài sản thể hiện các nguồn lực kinh tế mà doanh nghiệp đang sử dụng
hay đầu tư tại thời điểm lập báo cáo nhằm đạt được các mục tiêu đã đònh.
Các thông tin về các nguồn lực kinh tế do doanh nghiệp kiểm soát và khả
năng quản lý các nguồn lực này trong quá khứ như thế nào là các thông
tin hữu ích để dự đoán năng lực của doanh nghiệp trong việc tạo ra nguồn
tiền và các khoản tương đương tiền trong tương lai.
- Đánh giá tính linh hoạt tài chính: là đánh giá khả năng của doanh
nghiệp trong việc thực hiện các hoạt động tài chính hiệu quả nhằm đáp
ứng các nhu cầu và cơ hội chưa dự tính trước. Tỷ lệ khoản nợ phải trả và
vốn chủ sở hữu cung cấp thông tin về cơ cấu tài chính của doanh nghiệp.
Những thông tin này hữu ích cho việc dự đoán nhu cầu đi vay trong tương
lai, khả năng huy động các nguồn lực tài chính và phương thức phân phối
lợi nhuận.
- Đánh giá khả năng thanh toán: căn cứ vào tính thanh khoản của
các tài sản và mức độ cân đối giữa các tài sản và nguồn hình thành. Tính
thanh khoản của tài sản là khả năng chuyển hoá thành tiền của các tài sản
và khả năng thanh toán thể hiện số tiền có thể đáp ứng các nợ phải trả
đến hạn (như tỷ lệ thanh toán ngắn hạn, tỷ lệ thanh toán nhanh,…). Thông
tin về khả năng thanh toán của doanh nghiệp hữu ích cho người sử dụng
trong việc dự đoán khả năng thực hiện các cam kết tài chính khi đến hạn
của doanh nghiệp.
- Đánh giá khả năng sinh lợi: thông tin trên bảng cân đối kế toán kết
hợp với thông tin trên kết quả kinh doanh cũng cung cấp thông tin về khả
năng sinh lợi của doanh nghiệp qua 2 cách:
+ Thứ nhất, tài sản được đònh nghóa như các nguồn lực kinh tế hy
vọng mang lại lợi ích kinh tế tương lai. Tương ứng với giả đònh hoạt động
liên tục của doanh nghiệp, các lợi ích kinh tế tương lai này không chỉ thể
hiện là dòng tiền mà còn thể hiện thông qua khả năng tạo ra lợi nhuận.
Số liệu của các khoản mục khoản phải thu là các khoản ước tính
dòng tiền sẽ thu vào, hàng tồn kho và tài sản cố đònh là các tài sản tạo ra
doanh thu trong tương lai. Sự tăng hay giảm các tài sản này hỗ trợ cho sự
dự đoán doanh thu và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp thông qua tỷ lệ
doanh thu trên tài sản và tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản.
+ Thứ hai, việc đánh giá khả năng sinh lợi của doanh nghiệp cần
dựa trên thông tin về các nguồn lực như tỷ lệ doanh thu hay lợi nhuận trên
mức đầu tư để đo lường hiệu quả của các hoạt động doanh nghiệp thông
qua tỷ lệ lợi nhuận trên vốn hay tỷ lệ hoàn vốn đầu tư.
Bên cạnh các thông tin hữu ích, tính hữu dụng của bảng cân đối kế
toán bò hạn chế bởi các yếu tố sau:
- Sự không đầy đủ: Một số tài sản và nợ phải trả không được trình
bày trên bảng cân đối kế toán (do không có giá trò xác đònh một cách đáng
tin cậy như nguồn nhân lực, lợi thế thương mại tự tạo,…) hay một số tài sản
trình bày trên bảng cân đối kế toán không có giá trò kinh tế (như tài sản
thiếu chờ xử lý) vì tuân thủ theo các điều kiện ghi nhận quy đònh trong các
chuẩn mực hay nguyên tắc kế toán.
- Vấn đề đònh giá: Một số tài sản, nợ phải trả được ghi nhận theo giá
gốc (như tài sản cố đònh), một số tài sản khác thì được ghi nhận theo giá
thò trường (như hàng tồn kho, các khoản đầu tư) gây khó khăn trong việc
hiểu và so sánh.
- Vấn đề ghi nhận: Một số chuẩn mực, nguyên tắc kế toán cho phép
trì hoãn việc ghi nhận liên quan đến sự thay đổi giá trò.
- Sự ước tính: Một vài khoản mục nợ phải trả được xác đònh bằng
phương pháp ước tính làm ảnh hưởng đến tính đáng tin cậy của thông tin
tài chính trên bảng cân đối kế toán.
- Thông tin trên bảng kết quả hoạt động kinh doanh:
Bảng kết quả kinh doanh hay báo cáo thu nhập trình bày kết quả
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong 1 thời kỳ. Bảng kết quả kinh
doanh bao gồm 2 yếu tố : doanh thu và chi phí. Chênh lệch giữa doanh thu
và chi phí là kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Bảng kết
quả kinh doanh trình bày tất cả các khoản lãi và lỗ từ các hoạt động của
doanh nghiệp trong một thời kỳ. Thông tin trên bảng kết quả kinh doanh
được nhiều đối tượng bên ngoài doanh nghiệp sử dụng hơn thông tin trên
bảng cân đối kế toán vì bảng kết quả kinh doanh cung cấp thông tin liên
quan đến khả năng sinh lợi, và năng lực hoạt động.
- Đánh giá khả năng sinh lợi : kết hợp với các thông tin trên bảng
cân đối kế toán, các đối tượng sử dụng thông tin có thể đánh giá khả năng
sinh lợi hay rủi ro của doanh nghiệp trong quá khứ thông qua các tỷ lệ lợi
nhuận trên doanh thu, lợi nhuận trên tài sản, lợi nhuận trên vốn,…. Các
thông tin về khả năng sinh lợi hay rủi ro trong quá khứ thường được các
đối tượng sử dụng báo cáo tài chính làm căn cứ để tiên đoán kết quả tương
lai của doanh nghiệp.
- Đánh giá năng lực hoạt động : thông tin trên bảng kết quả kinh
doanh cũng giúp cho người sử thông tin đánh giá các thay đổi tiềm tàng
của các khoản mục chi phí mà doanh nghiệp có thể kiểm soát. Thông tin
thể hiện trên bảng kết quả kinh doanh cũng là căn cứ đánh giá khả năng
của doanh nghiệp thích nghi với các rủi ro và cơ hội đã qua, cũng như khả
năng của doanh nghiệp nhằm duy trì một mức độ hoạt động cụ thể nào đó.
Thông tin về kết quả kinh doanh cũng hữu ích trong việc dự tính khả
năng tạo ra các nguồn tiền của doanh nghiệp trên cơ sở các nguồn lực
hiện có và đánh giá về tính hiệu quả của các nguồn lực bổ sung mà doanh
nghiệp có thể sử dụng.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét