Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Đầu tư phát triển khu công nghiệp trên địa bàn Hà Nội

Sự tác động đồng thời về mặt thời gian của đầu t đối với tổng cung và
tổng cầu của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của hoạt động đầu t dù là
tăng hay giảm dèu cùng một lức vừa là yếu tố duy trì sự ổn định, vừa là yếu
tố phá vỡ sự ổn định kinh tế của mỗi quốc gia.
Chẳng hạn, khi đầu t tăng, cầu của các yếu tố đầu t tăng làm cho giá
hàng hoá có liên quan tăng đến mức nào đó thì dẫn đến lạm phát sẽ làm cho
sản xuất bị đình trệ, thâm hút ngân sách, đời sống ngời lao động gặp nhiều
khó khăn Mặt khác, tăng đầu t làm cho cầu của các yếu tố có liên quan
tăng, sản xuất của các ngành này phát triển thu hút thêm lao động giảm thất
nghiệp, giảm tệ nạn xã hội. Tơng tự nh vậy khi đầu t giảm cũng gây tác động
hai mặt (theo chiều hớng ngợc lại với tác động trên). Vì vậy các nhà chính
sách cần thấy hết tác động hai mặt này để đa ra các chính sách phù hợp nhằm
hạn chế tác động xấu và phát huy các tác động tích cực duy trì sự ổn định của
toàn bộ nền kinh tế.
1.1.3.3. Đầu t tác động đến tốc độ tăng trởng và phát triển kinh tế.
Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy: Muốn giữ tốc độ
tăng trởng mức trung bình thì tỷ lệ đầu t phải đạt đợc từ 15 - 25% so với GD
tuỳ thuộc vào hệ số ICOR của mỗi nớc.
IC0R = vốn đầu t . Mức tăng GDP.
Từ đó suy ra:
Mức tăng GDP = Vốn ĐT/ICOR
Nếu hệ số ICOR không đổi thì mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào
vốn đầu t. Chỉ tiêu ICOR của mỗi quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố, thay
đổi theo trình độ phát triển và cơ chế chính sách của mỗi quốc gia. ở Việt
Nam hệ số ICOR trong thời gian qua nh sau:
Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Hệ số ICOR 3,1 3,1 3,8 4,4 5,5 4,0
Nguồn: kinh tế Việt Nam và thế giới 2000 2001
5
Hệ số ICOR của Việt Nam tăng dần đã chứng tỏ hiệu quả đầu t còn
thấp, tốc độ tăng trởng kinh tế theo đó cũng thấp tơng ứng.
Đối với các nớc đang phát triển, phát triển về bản chất đợc coi là vấn
đề đảm bảo các nguồn vốn đầu t đủ để đạt đợc một tỷ lệ tăng thêm sản phẩm
quốc dân dự kiến, ở nhiều nớc đơng đóng vai trò nh một cái huých ban đàu
tạo đà cho sự cất cánh kinh tế.
1.1.3.4. Đầu t góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Đầu t vừa làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với quy luật phát
triển, chiến lợc phát triển kinh tế xã hội giữa các ngành, vùng và tạo điều
kiện phát huy lợi thế so sánh của ngành, vùng về tài nguyên, địa thế, kinh tế,
chính trị
Kinh nghiệm của các nớc trên thế giới cho thấy con đờng tất yếu để
tăng trởng nhanh với tốc độ mong muốn là tăng cờng đầu t nhằm tạo ra sự
phát triển nhanh ở khu vực công nghiệp, bởi vì khu vực nông nghiệp do
những hạn chế về khả năng sinh học để đạt đợc độ tăng trởng từ 5 - 6% là rất
khó khăn. Nh vậy chính sách đầu t quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt đợc tốc độ tăng trởng trên toàn bộ nền kinh
tế.
Cơ cấu kinh tế Việt Nam đã dần phù hợp hơn theo hớng giảm dần tỷ
trọng ngành nông nghiệp và tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp.
Về cơ cấu vùng kinh tế, đầu t có tác dụng giải quyết sự mất cân đối về
phát triển, đa vùng kinh tế kém phát triển thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc
hậu bằng cách phát huy tối đa lợi thế so sánh của mỗi vùng, phát triển mạnh
những vùng khác phát triển . Nhìn chung, đầu t chính là yếu tố tác động
mạnh nhất đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua việc tăng giảm vốn
đầu t theo thứ tự u tiên cho từng vùng, ngành trong từng thời kỳ.
1.1.3.5. Đầu t với việc tăng cờng khả năng khoa học công nghệ của đất
nớc.
6
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá. Đầu t là điều kiện tiên
quyết của sự phát triển và tăng cờng khả năng khoa học công nghệ của đất n-
ớc. Theo đánh giá của các chuyên gia công nghệ, trình độ công nghệ của
Việt Nam lạc hậu nhiều thế hệ so với thế giới và khu vực. Theo UNIDO nếu
chia quá trình phát triển công nghệ thành 7 giai đoạn thì Việt Nam năm 1990
mới ở giai đoạn 1 và 1. Việt Nam là một trong 90 nớc kém nhất về khoa học
công nghệ hiện nay. Với trình độ khoa học công nghệ nh vậy, quá trình CNH
- HĐH của Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu không đề ra đợc một số
chiến lợc phát triển công nghệ nhanh và vững chắc.
Chúng ta biết rằng có hai con đờng để có công nghệ là: Tự nghiên cứu
phát minh và mua của nớc ngoài. Dù là tự nghiên cứu hay nhập khẩu thì đều
cần vốn, mọi phơng án công nghệ nếu không gắn với nguồn vốn đầu t đều
không có tính khả thi.
1.2. Lý luận chung về KCN.
1.2.1. Định nghĩa về KCN:
Tuỳ điều kiện từng nớc mà KCN có những nội dung hoạt động kinh tế
khác nhau. Nhng tựu trung lại , hiện nay tên thế giới có hai mô hình phát
triển KCN, cũng từ đó hình thành hai định nghĩa khác nhau về KCN.
- Định nghĩa 1: KCN là khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất
công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thơng mại, văn phòng,
nhà ở KCN theo quan điểm này về thực chất là khu hành chính - kinh tế
đặc biệt nh KCN Bâthơng mại Indonesia, các công viên công nghiệp ở Đài
Loan, Thái Lan và một số nớc Tây Âu.
- Định nghĩa 2: KCN là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó
tập trung các doanh nghiệp công nghệ và dịch vụ sản xuất công nghiệp,
không có dân c sinh sống. Theo quan điểm này, ở một số nớc nh Malaixia,
Inđonnesia, Thái Lan, Đài Loan đã hình thành nhiều KCN với qui mô khác
nhau.
7
- Theo quy chế KCN, khu chế xuất, khu công nghệ cao - ban hành
kèm theo Nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997, KCN là khu tập trung các
doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện
các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp có danh giới địa lý xác định, không có
dân c sinh sống; do Chính Phủ hoặc Thủ tớng Chính Phủ quyết định thành
lập. Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất. Nh vậy trong KCN ở Việt
Nam đợc hiểu giống với định nghĩa 2.
Trong đó:
+ Doanh nghiệp KCN là doanh nghiệp đợc thành lập và hoạt động
trong KCN gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ.
+ Doanh nghiệp sản xuất KCN là doanh nghiệp sản xuất hàng công
nghiệp đợc thành lập và hoạt động trong KCN.
+ Doanh nghiệp dịch vụ KCN là doanh nghiệp đợc thành lập và hoạt
động trong KCN, thực hiện dịch vụ các công trình kết cáu hạ tầng KCN, dịch
vụ sản xuất công nghiệp.
1.2.2. Khái niệm ĐTPT KCN.
ĐTPT KCN là tổng thể các hoạt động về huy động và sử dụng các
nguồn lực nhằm xây dựng và phát triển các KCN trong phạm vi không gian
lãnh thổ và trong một thời kỳ nhất định, gắn với sự tác động tổng hợp của các
yếu tố tự nhiên, kinh tế , xã hội vùng. Đó là quá trình tiến hành xây dựng và
thực hiện các dự án đầu t xây dựng kết cấu hạ tầng cùng nhiều dự án đầu t
vào các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ trong KCN, do cộng đồng các chủ thể
doanh nghiệp trong nớc, doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài cùng tham gia
các dự án ĐTPT theo cơ cấu hợp lý và quy hoạch thống nhất. Hình thành và
phát triển KCN là quá trình tập hợp nhiều dự án đầu t đợc thực hiện liên tục
trong một thời gian dài, từ khi chuẩn bị dự án đầu t xây dựng hạ tầng đến khi
xây dựng hoàn chỉnh, đồng bộ các công trình hạ tầng đó, từ việc xác định và
thu thút các dự án đầu t sản xuất đến khi các dự án này đợc vận hành với toàn
diện tích của KCN đợc sử dụng, đạt hiệu quả kinh tế xã hội nh dự kiến.
8
1.2.3. Mục tiêu và đặc điểm của KCN:
1.2.3.1. Mục tiêu:
Sự hình thành và phát triển các KCN trên thế giới gắn liền với những
mục tiêu của các nớc thành lập KCN và những mục tiêu của Nhà đầu t nớc
ngoài.
1.2.3.1.1. Mục tiêu của Nhà đầu t nớc ngoài :
- Giảm chi phí sản xuất sản phẩm bằng cách tận dụng các yếu tố sản
xuất rẻ ở các nớc đang phát triển.
Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế các nớc phát triển, nhất là
đầu những năm 60, đã vấp phải khó khăn về nguồn lao động ở các nớc đó.
Khi tại các nớc này, nguồn nhân công tiền lơng thấp ngày một khan hiếm,
giá lao động, chi phí bảo hiểm xã hội ngày một tăng, đã thúc đẩy các công ty
xuyên quốc gia nhanh chóng quyết định chuyển ngành công nghiệp có hàm
lợng lao động sống cao sang các bớc đang phát triển. Thêm vào đó, giá đất
ngày càng cao, sự phát triển của các ngành dùng nhiều nguyên liệu, công
nghiệp tiêu chuẩn hoá nh ở cơ khí chế tạo, sản xuất cấu kiện không đòi hỏi
trình độ công nghệ cao tại các nớc t bản phát triển tỏ ra không còn hiệu quả
do các khoản chi phí vận chuyển nguyên liệu nhập khẩu từ bên ngoài ngày
càng tăng, làm giảm khả năng cạnh tranh của họ trên thị trờng thế giới. Điều
này có thể giúp chúng ta lý giải vì sao các công ty đa quốc gia lại thờng đầu
t vào các ngnàh công nghiệp nhẹ, chế biến, lắp ráp; nh dệt, may mặc, điện tử,
sản xuất kim khí hoá ở các KCN của các nớc đang phát triển.
- Tránh hàng rào thuế quan đợc Chính Phủ bảo hộ, mậu dịch của các
nớc đang phát triển, tận dụng các chính sách u đãi về thuế, nhất là thuế và
các u đãi khác của các nớc này, nhằm tăng cờng lợi ích của các công ty
xuyên quốc gia.
- Bảo vệ môi trờng của các nớc phát triển. Sự phát triển ở đầu t của các
ngành công nghiệp, nhất là các ngành công nghiệp nhiều phế thải đã gây nên
tình trạng ô nhiễm môi trờng không kiểm soát nổi ở các nớc phát triển, làm
9
cho chi phí bảo vệ môi trờng ngày càng tăng. Xu hớng chung của các công ty
xuyên quốc gia là muốn chuyển các ngành công nghiệp này sang các nớc
đang phát triển để bảo vệ môi trờng nớc họ và giảm chi phí sản xuất.
- Tạo địa bàn hoạt động và thực hiện chiến lợc phát triển lâu dài. Khi
đầu t ra nớc ngoài, trong đó có đầu t vào KCN, các công ty t bản nớc ngoài
muốn mở rộng địa bàn hoạt động tạo chỗ đứng, chuẩn bị cho những bớc đi
lâu dài trong chiến lợc phát triển của họ. Đàu t của các nớc phơng Tây, Nhật
Bản, Đài Loan và Hồng Kông vào Trung Quốc là điển hình của xu hớng đó.
1.2.3.1.2. Mục tiêu của nớc thành lập.
Trong khi các Công ty t bản nớc ngoài tìm kiếm lợi ích của mình
thông qua các động cơ không cần che dấu đó, thì các nớc tiếp nhận đầu t
cũng cố gắng đạt đợc những mục tiêu chiến lợc của mình thông qua việc
thành lập các KCN. ở đây khó có thể đề cập đến mục tiêu của từng nớc đang
phát triển, bởi lẽ mỗi nớc trong mỗi khu vực có những điều kiện và mục tiêu
phát triển riêng. Song nếu phân tích từ giác độ vĩ mô, có thể tóm lại mục tiêu
cơ bản và thống nhất của các nớc này là nh sau:
- Thu hút vốn đầu t nớc ngoài: Đây là mục tiêu quan trọng nhất của
KCN. Với tính chất là vùng lãnh thổ hoạt động theo qui chế riêng trong
môi trờng đầu t chung của cả nớc, KCN trở thành công cụ hữu hiệu thu hút
đầu t trực tiếp nớc ngoài dể mở mang hoạt động sản xuất kinh doanh trong
khu vực và đạt tới tốc độ tăng trởng kinh tế chung của cả nền kinh tế.
- Các nớc chủ nhà, trong nhiều trờng hợp, đã thông qua KCN nh một
cầu nối trung gian để thu hút vốn đầu t nớc ngoài vào các phần lãnh thổ còn
lại của đất nớc.
- Mở rộng hoạt động ngoại thơng: Thông qua việc thành lập KCN, nớc
chủ nhà muốn đẩy mạnh hoạt động ngoại thơng với các nớc.
Đối với Việt Nam, là một nớc đang phát triển thì việc lập ra các KCN
để thu hút vốn đầu t và kỹ thuật tiên tiến của nớc ngoài, mở rộng công
10
nghiệp, xuất khẩu, từ đó tạo ra những mặt hàng xuất khẩu có giá trị lớn là
điều quan tâm nhất.
- Tạo công ăn việc làm:
Khuyến khích toàn dụng lao động là những mục tiêu quan trọng của
các nớc đang phát triển. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, sự bùng nổi dân số
và tình trạng thất nghiệp đã làm cho bức tranh kinh tế của các nớc ngày càng
trở nên ảm đạm. Trong khi các nớc mời dành đợc độc lập d thừa sức lao động
thì tình trạng thiếu ngời lao động, đặc biệt là các lao động tiền lơng thấp ở
các nớc t bản phát triển, đặt các nớc này trớc sự lựa chọn sử dụng nguồn lực
lao động dồi dào trong đội quân thất nghiệp khồng lồ ở các nớc đang phát
triển.
Mở mang KCN để tạo ra nhiều hơn chỗ làm việc là mục tiêu chung
của các nớc đang phát triển. Thực tiễn cho thấy, KCN là công cụ hữu hiệu
thực hiện chiến lợc lâu dài về toàn dụng lao động ở các nớc đó.
- Du nhập kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và học tập kinh nghiệm quản
lý của các công ty t bản nớc ngoài.
Vào những năm của thập kỷ 70 và 80 để tránh bị tụt hậu về kinh tế,
đặc biệt là trong sản xuất công nghiệp và tăng sức cạnh tranh hàng xuất khẩu
trên thế giới, các nớc đang phát triển muốn mau chóng phát triển khoa học kỹ
thuật của mình, nâng cao trình độ kinh tế của đất nớc. Xây dựng KCN để thu
hút vốn đầu t nớc ngoài, từ đó tạo điều kiện nhập khẩu kỹ thuật, công nghệ
của các Công ty t bản nớc ngoài, học tập kinh nghiệm quản lý kinh tế của họ
là biện pháp hữu hiệu mà nhiều nớc từng áp dụng.
- Làm cầu nối hội nhập nền kinh tế trong nớc với nền kinh tế thế giới,
thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong nớc.
Trớc hết hàng tiêu dùng từ các KCN cung cấp cho thị trờng nội địa ở
thành thị và nông thôn đủ sức cạnh tranh và ngăn chặn hàng nhập lậu từ nớc
ngoài, đồng thời góp phần tăng sản xuất hàng xuất khẩu.
11
KCN cũng là một ngõ cửa khai thông nền kinh tế trong nớc với nnè
kinh tế khu vực và thế giới.
Mặt khác, KCN là một bộ phận cấu thành của kinh tế trong nớc, tạo
nên sức thu thút với Nhà đầu t nớc ngoài. Tạo ra năng lực sản xuất mới, thu
hút lao động trong nớc vào làm việc ở các KCN, phát triển mối liên kết với
các doanh nghiệp trong nớc nằm ngoài KCN thông qua các hợp đồng gia
công, cung cấp nguyên liệu giữa các xí nghiệp này là thực tế diễn ra ở nhiều
KCN.
Dù đợc thành lập trong những điều kiện khác nhau, với tính chất và
thời điểm khác nhau, những mục tiêu các KCN đều gắn liền với mục tiêu
phát triển kinh tế của từng quốc gia. Chính vì vậy, liều lợng và tính chất u
tiên đối với kti cụ thể của từng nớc cũng rất khác nhau, thể hiện thông qua u
đãi mà Chính Phủ các nớc này dành cho KCN. Thí dụ: trong khi Đài Loan,
Hàn Quốc, Malaixia, Philipin dờng nh đặt lên hàng đầu mục tiêu xuất khẩu
và tạo việc làm; Xrilânghiên cứu và ấn Độ chú trọng vào việc thu thút đầu t,
thì Trung Quốc lại u tiên nhiều hơn cho mục tiêu thúc đẩy, lôi kéo sự phát
triển nền kinh tế khu vực ngoài KCN.
ở Việt Nam thu hoá vốn đầu t nớc ngoài, tăng nhanh xuất khẩu để có
thu nhập ngoại tệ, góp phần thực hiện công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nớc
tạo công ăn việc làm cho ngời lao động là nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt
động đầu t trực tiếp. Việc thành lập các KCN ở Việt Nam là biện pháp tích
cực để thực hiện mục tiêu chiến lợc đó.
Song để có các KCN, điều cơ bản của các nớc chủ nhà là phải gắn
mục tiêu của các KCN với mục tiêu của các Công ty xuyên quốc gia - đối t-
ợng chủ yếu của các KCN. Nói cách khác hai bên phải tìm đợc điểm gặp
nhau đó chính là lợi ích của các bên mà KCN là công cụ thực hiện. Lợi ihcs
đó chỉ có thể đạt đợc trong môi trờng đầu t do các nớc chủ nhà tạo ra để sẵn
sàng đón nhận đầu t của các công ty xuyên quốc gia.
1.2.3.2. Đặc điểm:
12
Hiện nah, các KCN đợc phát triển ở hầu hết ở tất cả các quốc gia, đặc
biệt là các nớc đang phát triển. Mặc dù có sự khác nhau về qui mô, địa điểm
và phơng thức xây dựng cơ sở hạ tầng, nhng nói chung các KCN có những
đặc điểm chủ yếu sau đây:
- Về tính chất hoạt động: KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp sản
xuất công nghiệp và các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ mà không có dân
c (gọi chung là doanh nghiệp KCN). KCN là nơi xây dựng để thu hút các đơn
vị sản xuất sản phẩm công nghiệp hoặc các đơn vị doanh nghiệp dịch vụ gắn
liền với sản xuất công nghiệp. Theo điều 6 Quy chế KCN, TCSX, KCNC ban
hành kèm Nghị định 36/CP thì doanh nghiệp KCN có thể là các doanh
nghiệp Việt Nam, thuộc mọi thành phần kinh tế doanh nghiệp có vốn đầu t n-
ớc ngoài hoặc các bên tham gia hợp đồng, hợp tác kinh doanh, các doanh
nghiệp này đợc quyền kinh doanh trong các lĩnh vực cụ thể sau: Xây dựng và
kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng; sản xuất gia công, lắp giáp các
sản phẩm công nghiệp để xuất khẩu và tiêu dùng ở trong nớc, phát triển và
kinh doanh bằng sáng chế, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ; nghiên
cứu, phát triển khoa học công nghệ để nâng cao chất lợng sản phẩm và tạo ra
sản phẩm mới; dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp.
- Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Các KCN đều xây dựng hệ thống cơ sở hạ
tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh nh đờng xá;
hệ thống điện nớc, điện thoại. Thông thờng việc phát triển cơ sở hạ t ầng
trong KCN do một công ty xã hội khác phát triển công suất hạ tầng đảm
nhiệm. ở Việt Nam Công ty này là các doanh nghiệp liên doanh, doanh
nghiệp 100% vốn nớc ngoài hoặc doanh nghiệp trong nớc thực hiện. Các
Công ty phát triển cơ sở hạ tầng KCN sẽ xây dựng các kết cấu hạ tầng sau
đó đợc phép cho các doanh nghiệp khác thuê lại.
- Về tổ chức quản lý: Trên thực tế các KCN đều thành lập hệ thống
Ban quản lý KCN cấp tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ơng để trực tiếp thực
hiện các chức năng quản lý Nhà nớc đối với hoạt động sản xuất kinh doanh
13
trong KCN. Ngoài ra tham gia vào quản lý tại các KCN còn có nhều Bộ nh:
Bộ kế hoạch và Đầu t, Bộ Thơng mại, Bộ Xây dựng
1 2.4. Sự hình thành và phát triển KCN.
1.2.4.1. Điều kiện hình thành KCN:
Điều kiện quan trọng, quyết định nhất khi xem xét thành lập các KCN
là xác định đợc nhu cầu thành lập KCN và phải có kế hoạch vận động các
nhà đầu t trong và ngoài nớc đầu t vào KCN. Thực tế cho tháy, một số KCN
đã đợc thành lập, kể cả KCN liên doanh với nớc ngoài, đã xây dựng kết cấu
hạ tầng tơng đối hoàn chỉnh đồng bộ và tơng đối hiện đại song đang gặp khó
khăn trong việc thu hút đầu t, dẫn đến việc không đạt hiệu quả, mục tiêu đặt
ra. Do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân xác định không chính
xác sự cần thiết và nhu cầu thành lập KCN. Do vậy, khi xem xét thành lập
KCN cần cân nhắc kỹ lỡng nhu cầu thành lập KCN, khả năng kêu gọi các
nhà đầu t trong nớc và các nhà đầu t nớc ngoài đầu t vào KCN, coi đó là một
trong những điều kiện tiên quyết của việc thành lập KCN.
Sự phù hợp của KCN đó với quy hoạch phát triển hệ thống KCN trong
phạm vi cả nớc kế hoạch phát triển ngành kinh tế kỹ thuật cũng nh quy hoạch
phát triển kinh tế xã hội của các địa phơng. Từ đó xác định phơng hớng mặt
hàng, sản phẩm chủ yếu trong KCN đó có phù hợp với định hớng phát triển
kinh tế kỹ thuật, tơng ứng hay không, kể cả định hớng tiêu thụ sản phẩm
trong đó, có vấn đề xuất khẩu sản phẩm.
Vai trò, vị trí của KCN trong quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của
địa phơng là yếu tố hết sức quan trọng trong khi quyết định thành lập KCN,
bao gồm việc tạo ra năng lực sản xuất mới ở địa phơng, hình thành các khu
dân c mới và yêu cầu giải quyết các vấn đề phát sinh. Việc thành lập các
KCN phải phù hợp với định hớng phát triển công nghệ của các ngành kinh tế,
kỹ thuật kể cả yêu cầu áp dụng công nghệ kỹ thuật cao, hiện đại với một số
ngành mũi nhọn.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét