Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

Hoàn thiện công tác hạch toán tiền lương và bảo hiểm ở công ty xây dựng Sông Đà

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga
chất, vai trò của từng loại lao động đối với mỗi quá trình sản xuất kinh
doanh lại khác nhau. Vì thế, mỗi doanh nghiệp phải lựa chọn hình
thức trả lương cho người lao động sao cho hợp lý, phù hợp với đặc
điểm công nghệ, phù hợp với trình độ năng lực quản lý.
Hiện nay, việc trả lương trong các doanh nghiệp phải thực hiện
theo luật lao động và theo Nghị định NĐ 197 CP 31-12-1994 của Thủ
tướng Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành tại điều 58
Bộ luật lao động nước ta. Các doanh nghiệp có thể áp dụng 3 hình
thức trả lương như sau:
- Hình thức trả lương theo thời gian
- Hình thức trả lương theo sản phẩm
- Hình thức trả lương khoán
A. Hình thức trả lương theo thời gian:
Theo hình thức này, cơ sở để tính trả lương là thời gian làm
việc và trình độ nghiệp vụ của người lao động.
Tuỳ theo tính chất lao động khác nhau, mỗi ngành nghề cụ thể
có một thang lương riêng, trong mỗi một thang lương lại tuỳ theo trình
độ thành thạo nghiệp vụ, kỷ luật, chuyên môn mà chia làm nhiều bậc
lương, mỗi bậc lương có một mức tiền lương nhất định.
Tiền lương theo thời gian có thể tính theo các đơn vị thời gian
như: tháng, tuần, ngày, giờ.
• Lương tháng được quy định sẵn đối với từng bậc lương trong các
thang lương, nó có nhiều nhược điểm bởi không tính được người
làm việc nhiều hay ít ngày trong tháng, do đó không có tác dụng
khuyến khích tận dụng đủ số ngày làm việc quy định. Lương tháng
thường áp dụng để trả lương cho nhân viên làm công tác quản lý
hành chính, quản lý kinh tế và các nhân viên thuộc các ngành hoạt
động không có tính chất sản xuất.
• Lương tuần được trả cho người lao động căn cứ vào mức lương
tháng và số tuần thực tế trong tháng. Lương tuần áp dụng trả cho
các đối tượng lao động có thời gian lao động không ổn định mang
tính chất thời vụ.
• Lương ngày trả cho người lao động căn cứ vào mức lương ngày
và số ngày làm việc thực tế trong tháng. Lương ngày thường áp
dụng để trả lương cho lao động trực tiếp hưởng lương thời gian,
Xí nghiệp Sông Đà 903
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga
tính lương cho người lao động trong những ngày hội họp, học tập
hoặc làm nghĩa vụ khác và làm căn cứ để tính trợ cấp bảo hiểm xã
hội (BHXH). Hình thức này có ưu điểm đơn giản, dễ tính toán,
phản ánh được trình độ kỹ thuật và điều kiện làm việc của người
lao động. Song, nó chưa gắn tiền lương với kết quả lao động của
từng người nên không kích thích việc tận dụng thời gian lao động,
nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.
• Mức lương giờ tính dựa trên cơ sở mức lương ngày, nó thường
được áp dụng để trả lương cho lao động trực tiếp trong thời gian
làm việc không hưởng theo sản phẩm. Ưu điểm của hình thức này
là đã tận dụng được thời gian lao động của công nhân nhưng nhược
điểm là vẫn chưa gắn tiền lương với kết quả lao động với từng
người, theo dõi phức tạp
Thực tế cho thấy đơn vị thời gian để trả lương càng ngắn thì việc trả
lương càng gần với mức độ hao phí lao động thực tế của người lao
động.
*Tiền lương Tiền lương cấp bậc Số ngày làm việc
=
×
tháng chức vụ 1 ngày thực tế trong tháng
Tiền lương tháng
×
12 tháng
*Tiền lương tuần =
Số tuần làm việc theo chế độ (52)
Tiền lương tháng
*Tiền lương ngày =
Số ngày làm việc theo chế độ (26)
Tiền lương ngày
*Tiền lương giờ =
Số giờ làm việc theo chế độ
Hình thức trả lương này có nhược điểm là không phát huy đầy đủ
nguyên tắc phân phối theo lao động vì nó không xét đến thái độ lao
động, đến cách sử dụng thời gian lao động, sử dụng nguyên vật liệu,
Xí nghiệp Sông Đà 903
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga
máy móc thiết bị, chưa chú ý đến kết quả và chất lượng công tác thực
tế của người lao động.
B. Hình thức trả lương theo sản phẩm
Theo hình thức này, cơ sở để tính trả lương là số lượng và chất
lượng sản phẩm hoàn thành.
Đây là hình thức trả lương phù hợp với nguyên tắc phân phối
theo lao động, gắn bó chặt chẽ thù lao lao động với kết quả sản xuất,
kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ, phát huy năng lực, khuyến khích tài
năng, sử dụng và phát huy được khả năng của máy móc trang thiết bị
để tăng năng suất lao động.
Tuy nhiên bên cạnh đó còn có những hạn chế có thể khắc phục
được như năng suất cao nhưng chất lượng kém do làm ẩu, vi phạm
quy trình, sử dụng quá năng lực của máy móc đó là do quá coi trọng
số lướng sản phẩm hoàn thành và một phần cũng do các định mức
kinh tế kỹ thuật xây dựng quá lỏng lẻo, không phù hợp với điều kiện
và khả năng sản xuất của doanh nghiệp.
Bởi vậy, trong việc trả lương theo sản phẩm, vấn đề quan
trọng là phải xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật để làm cơ sở cho
việc xây dựng đơn giá tiền lương đối với từng loại sản phẩm, từng
công việc một cách hợp lý .
Tuỳ thuộc vào điều kiện và tình hình cụ thể ở từng doanh
nghiệp, hình thức trả lương theo sản phẩm được vận dụng theo các
phương pháp cụ thể:
- Trả lương theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế
- Trả lương theo sản phẩm gián tiếp
- Trả lương theo sản phẩm có thưởng - phạt
- Trả lương theo sản phẩm luỹ tiến
1. Tiền lương trả theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế
Với cách này, tiền lương phải trả cho người lao động được
trích trực tiếp theo số lượng sản phẩm hoàn thành đúng quy cách,
phẩm chất và đơn giá tiền lương sản phẩm đã quy định không chịu
một sự hạn chế nào.
Xí nghiệp Sông Đà 903
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga
Đơn giá tiền lương trả cho một đơn vị sản phẩm hoàn thành
được xây dựng căn cứ vào mức lương cấp bậc công việc và định mức
thời gian hoặc định mức sản lượng cho công việc đó. Ngoài ra , nếu có
phụ cấp khu vực thì đơn giá tiền lương còn có thêm cả tỷ lệ phụ cấp
khu vực.
hoặc
Hình thức trả lương theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế có
ưu điểm đơn giản, dễ hiểu, quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao
động, lương trả cho công nhân càng cao khi sản xuất ra càng nhiều sản
phẩm, do đó khuyến khích được người công nhân nâng cao năng suất
lao động. Đây là hình thức phổ biến được các doanh nghiệp sử dụng
để tính lương phải trả cho lao động trực tiếp.Tuy nhiên cách trả lương
này cũng có nhược điểm nâng cao lợi ích cá nhân, không khuyến
khích người lao động quan tâm đến lợi ích chung của tập thể.
2. Tiền lương trả theo sản phẩm luỹ tiến
Theo hình thức này, ngoài tiền lương theo sản phẩm trực tiếp
còn căn cứ vào mức độ hoàn thành tỷ lệ luỹ tiến. Mức luỹ tiến này còn
có thể quy định bằng hoặc cao hơn định mức sản lượng. Những sản
phẩm dưới mức khởi điểm luỹ tiến được tính theo đơn giá tiền lương
chung cố định, những sản phẩm vượt mức càng cao thì suất luỹ tiến
càng lớn.
Lương trả theo sản phẩm luỹ tiến có tác dụng kích thích mạnh
mẽ việc tăng nhanh năng suất lao động, nhưng thường dẫn đến tốc độ
tăng tiền lương cao hơn tăng năng suất lao động và làm tăng khoản
mục chi phí nhân công trong giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Vì
vậy, hình thức này được sử dụng như một giải pháp tạm thời như áp
dụng trả lương ở những khâu quan trọng cần thiết để đẩy nhanh tốc độ
sản xuất đảm bảo cho sản xuất cân đối, đồng bộ hoặc có thể áp dụng
trong trường hợp doanh nghiệp phải thực hiện gấp một đơn đặt hàng
Xí nghiệp Sông Đà 903
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga
nào đó. Trường hợp không cần thiết thì doanh nghiệp không nên sử
dụng hình thức này.
3. Tiền lương trả theo sản phẩm gián tiếp
Tiền lương của người được trả lương theo sản phẩm gián tiếp
được xác định bằng cách nhân số lượng sản phẩm thực tế của người
lao động trực tiếp được người đó phục vụ với đơn giá lương cấp bậc
của họ (hoặc mức lương cấp bậc nhân với tỷ lệ % hoàn thành định
mức sản lượng bình quân của người lao động trực tiếp).
Tiền lương trả theo Số lượng sản phẩm Đơn giá lương
=
×
sản phẩm trực tiếp của công nhân trực tiếpgián tiếp
Số lượng sản phẩm của
Mức lương cấp bậc công nhân trực tiếp
=
×

×
100
của lao động gián tiếp Sản lượng định mức
Như vậy:
Mức lương cấp bậc của lao động gián tiếp
Đơn giá tiền lương gián tiếp =
Sản lượng định mức

Hình thức trả lương này áp dụng để trả lương cho lao động
gián tiếp ở các bộ phận sản xuất như công nghệ điều chỉnh máy, sửa
chữa thiết bị, bảo dưỡng máy móc, lao động làm nhiệm vụ vận chuyển
vật liệu, thành phẩm
Trả lương theo thành phẩm gián tiếp khuyến khích những
người lao động gián tiếp phối hợp với lao động trực tiếp để nâng cao
năng suất lao động, cùng quan tâm tới kết quả chung. Tuy nhiên, hình
thức này không đánh giá được đúng kết quả lao động của người lao
động gián tiếp.
4. Tiền lương trả theo sản phẩm có thưởng, phạt
Để khuyến khích người công nhân có ý thức trách nhiệm trong
sản xuất, công tác, doanh nghiệp có chế độ tiền thưởng khi người công
nhân đạt được những chỉ tiêu mà doanh nghiệp đã quy định như
Xí nghiệp Sông Đà 903
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga
thưởng về chất lượng sản phẩm tốt, thưởng về tăng năng suất lao
động, tiết kiệm vật tư.
Trong trường hợp người lao động làm ra sản phẩm hỏng, lãng
phí vật tư, không đảm bảo ngày công quy định thì có thể phải chịu
mức tiền phạt trừ vào mức tiền lương theo sản phẩm mà họ được
hưởng.
Thực chất của hình thức trả lương này là sự kết hợp giữa tiền
lương trích theo sản phẩm với chế độ tiền thưởng, phạt mà doanh
nghiệp quy định.
Hình thức này đánh vào lợi ích người lao động, làm tốt được
thưởng, làm ẩu phải chịu mức phạt tương ứng, do đó, tạo cho người
công nhân có ý thức công việc, hăng say lao động. Nhưng hình thức
này nếu làm tuỳ tiện sẽ dẫn đến việc trả thưởng bừa bãi, không đúng
người đúng việc, gây tâm lý bất bình cho người lao động.
C. Hình thức trả lương khóan
Theo hình thức này, công nhân được giao việc và tự chịu trách
nhiệm với công việc đó cho tới khi hoàn thành.
Có 2 phương pháp khoán: khoán công việc và khoán quỹ lương.
- Khoán công việc:
Theo hình thức này, doanh nghiệp quy định mức tiền lương
cho mỗi công việc hoặc khối lượng sản phẩm hoàn thành. Người lao
động căn cứ vào mức lương này có thể tính được tiền lương của mình
thông qua khối lượng công việc mình đã hoàn thành.
Mức lương quy định Khối lượng công
việc
Tiền lương khoán công việc =
×
cho từng công việc đã hoàn thành
Cách trả lương này áp dụng cho những công việc lao động đơn
giản, có tính chất đột xuất như bốc dỡ hàng, sửa chữa nhà cửa
- Khoán quỹ lương
Theo hình thức này, người lao động biết trước số tiền lương
mà họ sẽ nhận sau khi hoàn thành công việc và thời gian hoàn thành
công việc được giao. Căn cứ vào khối lượng từng công việc hoặc khối
lượng sản phẩm và thời gian cần thiết để hoàn thành mà doanh nghiệp
tiến hành khoán quỹ lương.
Xí nghiệp Sông Đà 903
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga
Trả lương theo cách khoán quỹ lương áp dụng cho những công
việc không thể định mức cho từng bộ phận công việc hoặc những công
việc mà xét ra giao khoán từng công việc chi tiết thì không có lợi về mặt
kinh tế, thường là những công việc cần hoàn thành đúng thời hạn.
Trả lương theo cách này tạo cho người lao động có sự chủ
động trong việc sắp xếp tiến hành công việc của mình từ đó tranh thủ
thời gian hoàn thành công việc được giao. Còn đối với người giao
khoán thì yên tâm về thời gian hoàn thành.
Nhược điểm của phương pháp trả lương này là dễ gây ra hiện
tượng làm bừa, làm ẩu, không đảm bảo chất lượng do muốn đảm bảo
thời gian hoàn thành. Vì vậy, muốn áp dụng phương pháp này thì
công tác kiểm nghiệm chất lượng sản phẩm trước khi giao nhận phải
được coi trọng, thực hiện chặt chẽ.
Nhìn chung, ở các doanh nghiệp do tồn tại trong nền kinh tế
thị trường, đặt lợi nhuận lên mục tiêu hàng đầu nên việc tiết kiệm
được chi phí lương là một nhiệm vụ quan trọng, trong đó cách thức trả
lương được lựa chọn sau khi nghiên cứu thực tế các loại công việc
trong doanh nghiệp là biện pháp cơ bản, có hiệu quả cao để tiết kiệm
khoản chi phí này. Thông thường ở một doanh nghiệp thì các phần
việc phát sinh đa dạng với quy mô lớn nhỏ khác nhau. Vì vậy, các
hình thức trả lương được các doanh nghiệp áp dụng linh hoạt, phù hợp
trong mỗi trường hợp, hoàn cảnh cụ thể để có được tính kinh tế cao
nhất.
III - LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI, BẢO HIỂM Y
TẾ, KINH PHÍ CÔNG ĐOÀN.
1. Bảo hiểm xã hội (BHXH):
Trong thực tế, không phải lúc nào con người cũng chỉ gặp
thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện để sinh sống bình
thường. Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn, bất lợi, ít nhiều
ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm mất thu nhập hoặc các
điều kiện sinh sống khác như ốm đau, tai nạn, tuổi già mất sức lao
động nhưng những nhu cầu cần thiết của cuộc sống không những
mất đi hay giảm đi mà thậm chí còn tăng lên, xuất hiện thêm những
nhu cầu mới (khi ốm đau cần chữa bệnh ). Vì vậy, con người và xã
Xí nghiệp Sông Đà 903
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga
hội loài người muốn tồn tại, vượt qua được những lúc khó khăn ấy thì
phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau.
Trong xã hội công xã nguyên thuỷ, khó khăn bất lợi của mỗi
người được cả cộng đồng san sẻ gánh chịu. Còn ở xã hội phong kiến
quan lại, những lúc gặp khó khăn thì cậy nhờ ở Vua, dân cư gặp khó
khăn thì trông cậy vào sự đùm bọc, hảo tâm của họ hàng làng xã. Như
vậy là tất cả đều ở thế bị động, thụ động trông chờ vào sự hảo tâm của
phía giúp đỡ mà hoàn toàn không được chắc chắn.
Tiến bộ hơn, khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá phát
triển xuất hiện mối quan hệ chủ - thợ. Khi hai bên cam kết về lao
động, điều kiện về sự đảm bảo một phần thu nhập để trang trải những
nhu cầu sinh sống thiết yếu khi ốm đau, tai nạn cho người lao động
đã được người lao động quan tâm đến. Tuy nhiên, mới đầu do việc
đảm bảo này chỉ liên quan giữa hai bên chủ- thợ mà chủ thì rõ ràng
không muốn chi ra, thợ thì luôn đòi hỏi, vì vậy, tranh chấp giữa họ
luôn xảy ra.
Điều kiện khách quan đó làm xuất hiện một bên thứ ba, là
nhân vật đóng vai trò trung gian để giúp thực hiện những cam kết giữa
chủ- thợ bằng những hoạt động thích hợp của nó. Nhân vật thứ ba có
đủ khả năng và sự tín nhiệm để làm bên trung gian, đó là Nhà nước.
Nhà nước quy định hàng tháng giới chủ phải trích ra một
khoản tiền nho nhỏ được tính toán chặt chẽ trên cơ sở xác xuất những
biến cố của tập hợp những người lao động làm thuê để giao cho bên
thứ ba, khi có biến cố thì bên thứ ba chi trả, không phụ thuộc vào giới
chủ, số tiền không phải dùng đến (chưa phải chi trả) sẽ tồn tích lâu
ngày thành quỹ.
Việc Nhà nước can thiệp vào với vai trò là bên thứ ba, một
mặt làm tăng vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế trong các mối
quan hệ xã hội, mặt khác làm tăng chi cho ngân sách Nhà nước.
Nhà nước bằng những cơ sở lý luận khoa học đã buộc giới chủ
đóng góp vào quỹ BHXH với một khoản tiền phù hợp đủ cho người
lao động, đồng thời cũng yêu cầu giới thợ đóng góp một phần tiền
lương của mình vào quỹ để đảm bảo cho cuộc sống của chính mình.
Nhờ các hoạt động của Nhà nước này mà mâu thuẫn giữa chủ-
thợ được giải quyết, cả hai bên đều hài lòng, cảm thấy mình có lợi và
được bảo vệ.
Xí nghiệp Sông Đà 903
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga
Như vậy, ta có được khái niệm về BHXH như sau:
“BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu
nhập đối với người lao động khi họ gặp phải biến cố làm giảm hoặc
mất khả năng lao động hoặc mất việc làm bằng cách hình thành và sử
dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng
lao động và người lao động, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho
người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội”.
Ở Việt Nam hiện nay, mọi người lao động có tham gia đóng
BHXH đều có quyền hưởng BHXH. Đóng BHXH là tự nguyện hay
bắt buộc tuỳ thuộc vào loại đối tượng và từng loại doanh nghiệp để
đảm bảo cho người lao động được hưởng các chế độ BHXH thích
hợp. Phương thức đóng BHXH dựa trên cơ sở mức tiền lương quy
định để đóng BHXH đối với mỗi người lao động.
• Quỹ BHXH
Theo chế độ hiện hành, quỹ BHXH được tính theo tỷ lệ 20%
trên tổng quỹ lương cấp bậc và các khoản phụ cấp thường xuyên của
người lao động thực tế trong kỳ hạch toán.
Trong đó, 15% người sử dụng lao động phải nộp và khoản này
tính vào chi phí kinh doanh, còn 5% do người lao động trực tiếp đóng
góp (trừ trực tiếp vào lương).
Chi của quỹ BHXH cho người lao động theo chế độ căn cứ
vào:
+Mức lương ngày của người lao động
+Thời gian nghỉ (có chứng từ hợp lệ)
+Tỷ lệ trợ cấp BHXH.
2. Bảo hiểm y tế (BHYT):
Gần giống như ý nghĩa của BHXH, BHYT là sự đảm bảo thay
thế hoặc bù đắp một phần chi phí khám chữa bệnh cho người lao động
khi họ gặp rủi ro ốm đau, tai nạn bằng cách hình thành và sử dụng
một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao
động, nhằm đảm bảo sức khoẻ cho người lao động.
• Quỹ BHYT
Quỹ BHYT được hình thành bằng cách trích 3% trên số thu nhập tạm
tính của người lao động; trong đó người sử dụng lao động phải chịu
Xí nghiệp Sông Đà 903
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga
2%, khoản này được tính vào chi phí kinh doanh, người lao động trực
tiếp nộp 1% (trừ vào thu nhập).
Quỹ BHYT do Nhà nước tổ chức, giao cho một cơ quan là cơ quan
BHYT thống nhất quản lý và trợ cấp cho người lao động thông qua
mạng lưới y tế nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và
cộng đồng xã hội để tăng cường chất lượng trong việc khám chữa
bệnh. Vì vậy, khi tính được mức trích BHYT, các nhà doanh nghiệp
phải nộp toàn bộ cho cơ quan BHYT.
3. Kinh phí công đoàn (KPCĐ)
Người lao động để bảo vệ quyền lợi của mình trước giới chủ,
họ lập ra tổ chức công đoàn. Tổ chức này chuyên trách việc đại diện
cho người lao động để thương thuyết với giới chủ đòi quyền lợi cho
công nhân và giải quyết các tranh chấp bất công giữa chủ- thợ.
Nguôn kinh phí cho các hoạt động của tổ chức này lấy từ quỹ
“Kinh phí công đoàn”
• Quỹ KPCĐ
Ở mỗi doanh nghiệp đều phải có tổ chức công đoàn để đại diện
bảo vệ quyền lợi của người lao động và tập thể lao động. Người sử
dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm các phương tiện làm việc cần
thiết để công đoàn hoạt động. Người làm công tác công đoàn chuyên
trách do quỹ công đoàn trả lương và được hưởng các quyền lợi và
phúc lợi tập thể như mọi người lao động trong doanh nghiệp, tuỳ theo
quy chế doanh nghiệp hoặc thoả ước tập thể.
Như vậy, KPCĐ là quỹ tài trợ cho hoạt động công đoàn các
cấp. Theo chế độ hiện hành thì kinh phí công đoàn được tính theo tỷ lệ
2% trên tổng quỹ tiền lương phải trả cho người lao động và người sử
dụng lao động phải chịu khoản chi phí này (khoản này cũng tính vào
chi phí kinh doanh). Thông thường khi xác định được mức tính kinh
phí công đoàn trong kỳ thì một nửa doanh nghiệp phải nộp cấp trên,
một nửa thì được sử dụng để chi tiêu cho công đoàn tại các đơn vị.
IV - NHIỆM VỤ HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ BHXH,
BHYT, KPCĐ.
Xí nghiệp Sông Đà 903

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét