cao hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp phải đảm bảo nâng cao hiệu qủa kinh tế
cảu cả nớc cả địa phơng và đảm bảo kết hợp hài hoà giữa các tỉnh.
*Về mặt định lợng: hiệu quả kinh tế phải đợc thể hiện ở mức tơng quan giữa thu
và chi theo hớng tăng thu giảm chi. Điều đó có nghĩa là tiết kiệm đến mức tối đa các
chi phí kinh doanh mà thực chất là hao phí thời gian để tạo ra 1 đơn vị sản phẩm đồng
thời khả năng sẽ có làm ra nhiều sản phẩm có ít hơn và tốc độ tăng hao phí xã hội của
toàn bộ nền kinh tế quốc dân phải tăng hơn mức tăng của tổng sản phẩm xã hội. Tên
góc độ nền kinh tế quốc dân, hiệu quả mà doanh nghiệp đạt đợc phải gắn chặt với
hiệu quả đem lại cho xã hội, hiệu quả cao cho doanh nghiệp, cho cá nhân doanh
nghiệp cha đủ mà còn đòi hỏi mang laị hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp với
hiệu quả của xã hội (cả về mặt kinh tế lẫn về mặt xã hội) gắn chặt hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp với hiệu quả của toàn xã hội là 1 đặc trng riêng, có thể nói là
u việt của nền kinh tế thị trờng dới chủ nghĩa xã hội.
*Về định tính: hàng kinh tế phải gắn chặt giữa hiệu quả về chính trị xã hội. Mục
tiêu kinh tế phải bị chi phí bởi hiệu quả chính trị và xã hội. Bản thân 2 mặt chính trị
và xã hội có mối liên quan chặt chẽ với nhau. Bởi vậy vừa tính hiệu quả kinh tế ra
khỏi hiệu quả chính trị và xã hội là không đúng đắn, là xa rời bản chất chế độ xã hội
chủ nghĩa. Trong trờng hợp kinh tế và chính trị là 2 mặt có tính chất quyết định khi
lựa chọn một giải pháp kinh tế, mặc dù xét về kinh tế nó cha hoàn toàn thỏa mãn.
Biểu hiện tập chung nhất của hiệu quả là lợi nhuận của doanh nghiệp. Có thể nói
mục tiêu số 1 của kinh doanh là lợi nhuận, lợi nhuận chi phối toàn bộ quá trình kinh
doanh và không có lợi nhuận thì không có kinh doanh. Để đạt đợc hiệu quả cao nhất
trên cùng một cơ sở vật chất kỹ thuật, vật t, tiền vốn, lao động cần thiết phải nắm đợc
các nguyên nhân ảnh hởng, mức độ xu hớng ảnh hởng của từng nguyên nhân đến hiệu
quả công việc của mình.
II.Phơng pháp đánh giá hiệu quả hành động sản xuất kinh
doanh
1-Quan điểm cơ bản trong việc đánh giá trong việc sản xuất kinh doanh.
Kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh thờng đợc biểu hiện thành các chỉ
tiêu kinh tế dới sự tác động của các nguyên tố. Do đó khi phân tích kết quả của hoạt
5
động sản xuất kinh doanh ta mới phân tích tới quá trình định tính, cần phải lợng hoá
các chỉ tiêu là nhân tố ở những trị số xác định. Vì vậy để đánh giá kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách đúng đắn nhằm rút ra những thiếu
sót, những hớng đi mới, cần phải có một hệ thống phơng pháp đánh giá một cách
khoa học để rút ra những kết luận về những hiện tợng và quá trình kinh tế.
+Phơng pháp chi tiết: Chi tiết các bộ phận cấu thành chỉ tiêu. Các chỉ tiêu biểu
hiện kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, bao gồm nhiều bộ phận cấu thành bộ
phận biểu hiện chi tiết về một khía cạnh nhất định của kết quả kinh doanh. phân tích
chi tiết các chỉ tiêu cho phép đánh giá một cách chính xác cụ thể kết quả kinh doanh
đạt đợc.
Khi phân tích kết quả sản xuất ta chỉ có chỉ tiêu giá trị sản lợng đợc chi tiết theo
các bộ phận sau: giá trị thành phẩm làm bằng nguyên liệu của doanh nghiệp, giá trị
sản phẩm dở dang, giá trị sản phẩm tự chế.
Chi tiết thời gian kết quả kinh doanh bao giờ cũng là kết quả của một quá trình.
Trong sản xuất kinh doanh kết quả đạt đợc trong từng thời kỳ khác nhau là khác nhau.
Thậm chí chi tiết theo thời gian giúp ta đánh giá đợc nhịp điệu, tốc độ phát triển của
kinh doanh qua từng thời kỳ.
+Phơng pháp so sánh: là đối chiếu, các chỉ tiêu, các hiện tợng kinh tế đã đợc l-
ỡng hoá để xác định xu hớng, mức độ biến động của các chỉ tiêu. Nó cho phép ta tổng
hợp đợc những nét chung, tách ra đợc những nét riêng của các hiện tợng so sánh. Trên
cơ sở đó đánh giá đợc các mặt phát triển hay kém phát triển, hiệu quả hay không hiệu
quả để tìm ra các giải pháp hợp lý cho từng trờng hợp cụ thể, thông qua phơng pháp
so sánh chúng ta thấy đợc sự tăng trởng và phát triển hay là những bớc đi thụt lùi đối
với một số hoạt động của doanh nghiệp. Vì vậy trong phơng pháp này ta phải so sánh
mức hiệu quả giã các năng lực nh thế nào.
Có nhiều phơng pháp so sánh khác nhau nhng bắt buộc phải xác định số gốc để
so sánh, xác định điều kiện so sánh và mục tiêu so sánh.
+So sánh các số liệu thực hiện với số liệu hơn trớc để đánh giá mức độ biến
động so sánh mục tiêu đề ra
6
+So sánh số liệu kỳ này so với số liệu của kỳ trớc giúp ta nghiên cứu nhịp độ
biến động, tốc độ tăng trởng của hiện tợng
+So sánh số liệu cuả thời gian này so với số liệu cùng kỳ của thời gian trớc để
thấy đợc nhịp điệu kinh doanh trong từng khoảng thời gian.
+So sánh số liệu của doanh nghiệp mình với số liệu của doanh nghiệp khác tơng
đơng hay doanh nghiệp điển hình hay doanh nghiệp thuộc đối thủ cạnh tranh giúp ta
đánh giá đợc mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp.
Trong điều kiện hiện nay thì việc xem xét hiệu quả kinh tế trong sự so sánh là
một điều rất quan trọng u điểm lớn nhất của phơng pháp này là cho phép ta tách ra đ-
ợc những nét chung, những nét riêng của các hiện tợng đợc so sánh trên cơ sở đó đánh
giá đợc các mặt phát triển hay yếu kém để từ đó tìm ra các giải pháp tối u trong mỗi
trờng hợp cụ thể.
III.Hệ thống chỉ tiêu dùng để đánh giá hiệu quả sản xuất
kinh doanh
Đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp đợc thực
hiện trên cơ sở phân tích từng phần, sau đó tổng hợp lại và hớng vào mục tiêu chung
của hiệu quả là lợi nhuận, trên cơ sở đó rút ra những nhận định đúng đắn về hiệu quả
sản xuất kinh doanh. Do đó đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của một doanh
nghiệp bao gồm những bớc sau:
-Đánh giá chung hiệu quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp
-Đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong sản xuất kinh doanh
-Phân tích hiệu quả tiêu dùng của sản xuất kinh doanh thông qua chỉ tiêu lợi
nhuận 1.Chỉ tiêu tổng hợp dùng để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp có thể đợc tính theo cách sau
*Hiệu quả sản xuất kinh doanh tính theo dạng hệ số
Theo cách tính này thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để tính
bằng cách lấy tổng gía trị đầu ra (kết quả sản xuất kinh doanh) trừ đi toàn bộ chi phí
đầu vào)
7
Hqsxkd = Kết quả đầu ra chi phí đầu vào
*Hiệu quả sản xuất kinh doanh tính theo dạng tỷ lệ:
Hqsxkd =
Với chỉ tiêu này phản ảnh kết quả cuối cùng đạt đợc trên một đồng chi phí bỏ ra.
Nh vậy cách tính thứ hai đã khắc phục đợc nhợc điểm của cách tính thứ nhất. Không
thể nó còn tạo điều kiện nghiên cứu hiệu quả sản xuất kinh doanh một cách toàn diện
hơn, cách tính này cho phép đánh giá hiệu quả toàn bộ chi phí đã chi ra, bao gồm cả
chi phí lao động sống, lao động vật hoá để đạt đợc kết quả cuối cùng là lợi nhuận của
quá trình sản xuất kinh doanh.
*Tổng hợp các chỉ tiêu hiệu quả
Khi xem xét hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp cần phải dựa
vào một hệ thống tiêu chuẩn, các doanh nghiệp phải coi các tiêu chuẩn là mục tiêu
phấn đấu. Cũng có thể nói rằng doanh nghiệp có đạt đợc những tiêu chuẩn này mới có
thể đạt đợc các tiêu chuẩn về kinh tế, chính trị xã hội. Hệ thống tiêu chuẩn gồm
-Doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trờng phải tuân theo sự quản lý vĩ mô
của Nhà nớc theo hệ thống pháp luật hiện hành
-Phải kết hợp hài hoà giữa 3 loại lợi ích cá nhân, tập thể và Nhà nớc. Tuyệt đối
không vì lợi ích cá nhân mà làm tổn hại tới lợi ích tập thể và lợi ích xã hội
-Lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt đợc phải dựa trên cơ sở vận dụng linh hoạt,
sáng tạo các quy luật của nền sản xuất hàng hoá
-Mức thu nhập thuần tuý của doanh nghiệp (C+M) tính trên một lao động phải
thờng xuyên tăng lên. Tiêu chuẩn này phản ánh chính xác hiệu quả kinh doanh và
hiệu quả lao động, một yếu tố quyết định nhất, loại trừ ảnh hởng đợc yếu tố C trong
giá trị của hàng hoá. Sử dụng tiêu chuẩn này phù hợp với tiêu chuẩn hiệu quả của nền
sản xuất xã hội là tính thu nhập quốc dân theo đầu ngời Tiêu chuẩn thu nhập thuần
tuý tính trên một lao động đợc xác định nh sau:
TNbq =
Trong đó TNbq: Thu nhập thuần tuý bình quân tính /1 lao động
8
(Ci+Vi+Mi) x Qi-CiQi: Giá trị của 1 sản phẩm loại i
Qi: Sản lợng sản phẩm hàng hoá loại i
Ci: Giá trị t liệu sản xuất đã sử dụng để sản xuất 1 loại sản phẩm i
Tđ: Sản lợng lao động sử dụng trong kinh doanh
+Nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh:
Năng suất lao động =
Chỉ tiêu trên phản ánh sự tác động của các biện pháp biến việc sử dụng số lợng
và chất lợng lao động để tăng nhanh hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
trên đơn vị chi phí về lao động.
+Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng t liệu, máy móc thiết bị trong sản xuất kinh
doanh:
Hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị =
(Tổng giá trị thiết bị)
Chỉ tiêu này cho thấy trình độ sử dụng tài sản cố định trong sản xuất kinh doanh.
Nó phản ánh sự tác động của các biện pháp đến việc sử dụng các yếu tố về kỹ thuật
nhất là máy móc thiết bị, trang bị công nghệ. Với chỉ tiêu này sẽ giúp doanh nghiệp
kiểm soát đợc sự tiêu hao vật t, nguyên liệu của mình, vì nếu nh máy móc thiết bị quá
cũ thì việc tiêu hao vật t, nguyên liệu sẽ nhiều hơn đa đến giá thành sản phẩm sẽ tăng
cao. Nh vậy nhờ chỉ tiêu trên mà thấy đợc công suất, hiệu quả hoạt động của máy
móc để từ đó có hớng đầu t tài sản cố định cho thích hợp nh các biện pháp nâng cao
hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị trong doanh nghiệp.
+Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng đối tợng vật t, nguyên vật liệu trong quá trình sản
xuất kinh doanh
Hiệu suất sử dụng vật t-NVL =
Đây là chỉ tiêu khá quan trọng vì với chỉ tiêu này phản ánh giá trị tổng sản lợng
của doanh nghiệp đạt đợc là bao nhiêu/1 đồng giá trị vật t, nguyên vật liệu bỏ ra, điều
này có ý quyết định đến giá thành sản phẩm. Hiện nay để cạnh tranh đợc trên thơng
trờng thì một trong những mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp là hạ giá thành sản
9
phẩm, muốn vậy phải kiểm soát đợc chi phí đầu vào nắm đợc việc tiêu hao nguyên
liệu. Vì vậy với chỉ tiêu này sẽ giúp các doanh nghiệp đánh giá đợc mức tiêu hao
nguyên vật liệu nh thế nào trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
+Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn
-Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn trong sản xuất:
Hiệu suất đồng vốn sản xuất =
Các chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng vốn trên đây mang tính chất chung
cho tổng vốn sản xuất bao gồm cả vốn cố định và vốn lu động. Nó cho biết một đơn
vị vốn bỏ ra sản xuất kinh doanh thì làm ra đợc mấy đơn vị sản lợng.
III.Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình
sản xuất kinh doanh
Không ngừng nâng cao hiệu quả không chỉ là một mối quan tâm hàng đầu của
bất kể xã hội nào mà còn là mối quan tâm của bất kể ai, khi làm bất cứ việc gì. Đây
cũng là vấn đề bao trùm xuyên suốt và thể hiện chất lợng của toàn bộ quá trình quản
lý kinh tế. Bởi vì suy cho cùng quản lý kinh tế đảm bảo tạo ra kết quả và hiệu quả cao
nhất của mọi quá trình, của mỗi giai đoạn trong kinh doanh. Tất cả những cải tiến,
những đổi mới về nội dung, phơng pháp, biện pháp quản lý chỉ thực sự mang lại ý
nghĩa khi và chỉ khi nó làm tăng đợc kết quả kinh doanh và qua đó làm tăng hiệu quả
kinh doanh
Đối với một doanh nghiệp, hiệu quả kinh doanh không chỉ là thớc đo chất lợng,
phản ánh trình độ tổ chức, quản lý kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn của doanh
nghiệp đó. Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng tự do cạnh tranh hiện nay, yếu tố
cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt. Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển tr-
ớc hết hoạt động sản xuất kinh doanh của nó phải thực sự có hiệu quả. Hiệu quả kinh
doanh càng cao thì lợi nhuận thu đợc càng nhiều, doanh nghiệp càng có điều kiện mở
mang và phát triển, đầu t mua sắm máy móc thiết bị, phơng tiện kinh doanh, áp dụng
các tiến bộ khoa học kỹ thuật và quy trình công nghệ mới, cải thiện và nâng cao đời
sống của ngời lao động và thực hiện tốt nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nớc.
10
Phân tích đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là điều nghiên cứu nội
dung kết cấu và các mối quan hệ qua lại giữa các số liệu hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp bằng những phơng pháp khoa học nhằm thấy đợc hoạt động
chất lợng của các nguồn năng lực sản xuất tiềm năng, trên cơ sở đó tìm ra đợc những
mặt mạnh, mặt yếu để đề ra những biện pháp khắc phục và khai thác một cách có
hiệu quả tổng thể các nguồn lực, tài lực, vật lực hiện có của một doanh nghiệp.
Trong điều kiện nền kinh tế đang ở giai đoạn chuyển đổi từ cơ chế tập trung
quan liệu bao cấp sang cơ chế thị trờng nớc ta hiện nay, vấn đề hàng đầu đặt ra đối
với các doanh nghiệp là hiệu quả kinh tế. Đề đạt đợc hiệu quả kinh tế cao đứng vững
và phát triển trên thị trờng doanh nghiệp phải thờng xuyên kiểm tra, đánh giá mọi
biến động và kết quả kinh doanh nh: Tình hình sản xuất, tiêu thụ, diễn biến thị trờng,
trên cơ sở đó đề ra những giải pháp đúng đắn nhằm thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ
thuật, sử dụng hợp lý lao động, vật t, tài sản cố định, nâng cao năng suất và chất lợng
sản phẩm; hạ giá thành, tăng lợi nhuận kinh tế. Công tác trên chỉ thực sự tốt khi dựa
trên cơ sở phân tích hiệu quả kinh tế.
Nh vậy nếu không tiến hành phân tích hoạt động kinh tế thì không thể quản lý đ-
ợc quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Phân tích và đánh giá hiệu quả là
công cụ không thể thiếu đợc, là một giai đoạn của quá trình quản lý là cơ sở để đề ra
quyết định đúng đắn của các cấp quản lý.
-Nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội nói chung của từng doanh nghiệp nói riêng là
một yêu cầu cảu quy luật tiết kiệm.
-Nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh thực sự là việc tổ chức và
quản lý sản xuất có hiệu quả và hợp lý giữa các yếu tố sản xuất.
Để không ngừng thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng, với quy mô ngày càng
tăng, việc nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội. Đặc biệt trong sản xuất kinh doanh nâng
cao hiệu quả kinh tế cho bộ phận sản xuất thực chất là làm tăng hiệu quả sản xuất
(tăng khối lợng sản phẩm hàng tiêu thụ, tăng lợi nhuận, tăng thu nhập cán bộ, công
nhân viên) tạo ra trên một đơn vị chi phí sản suất (lao động, vật t, tiền vốn) hay tiết
kiệm đủ cho một đơn vị kết quả sản xuất hữu ích.
+ Về nhân lực
11
+ Về máy móc thiết bị
+ Về nguyên liệu
-Nâng cao hiệu quả kinh tế là mục tiêu cuối cùng của các đơn vị sản xuất kinh
doanh.
Việc nghiên cứu để tạo điều kiện đầu vào giảm xuống và việc quản lý các yếu tố
trong quá trình sản xuất làm sao cho hạ giá thành sản phẩm và cuối cùng làm tăng kết
quả đầu ra là công việc hết sức cần thiết đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào. Chỉ có
nâng cao đợc hiệu quả trong quá trình sản xuất kinh doanh thì các doanh nghiệp mới
tồn tại và có khả năng mở rộng sản xuất.
Do đó khi xem xét, đánh giá hiệu quả cần phải đảm bảo đầy đủ những quan
điểm cơ bản sau:
+ Đảm bảo sự thống nhất giã nhiệm vụ chính trị và kinh doanh trong việc nâng
cao hiệu quả kinh doanh. Quan điểm này đòi hỏi việc nâng cao hiệu quả kinh doanh
phải xuất từ mục tiêu chiến lợc kinh tế xã hội của Đảng và nhà nớc, trớc hết thể hiện ở
việc thực hiện các chỉ tiêu pháp lệnh hoặc đơn đặt hàng của nhà nớc giao cho doanh
nghiệp vì đó là nhu cầu và là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền
kinh tế quốc dân, của nền kinh tế hàng hoá.
+ Đảm bảo sự kết hợp hài hoá lợi ích và xã hội; lợi ích tập thể và lợi ích ngời lao
động.
Quan điểm này đòi hỏi sự nâng cao hiệu quả kinh doanh phải xuất phát và thoả
mãn những mối quan hệ lợi ích trên, trong đó lợi ích của ngời lao động đợc xem là
động lực trực tiếp: Bởi lẽ ngời lao động là yếu tố quyết định nâng cao hiệu quả kinh
doanh, hiệu quả kinh doanh mang lại phải đợc thoả mãn cho nhu cầu ngời lao động,
cho tập thể, cho Nhà nớc.
+ Đảm bảo tính toàn diện và hệ thống trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh:
Quan điểm này đòi hỏi việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh phải xuất
phát và đảm bảo yêu cầu nâng cao hiệu quả của nền sản xuất hàng hoá cảu ngành, của
địa phơng, của cơ sở. Trong từng đơn vị cơ sở khi xem xét, đánh giá hiệu quả kinh
12
doanh phải coi trọng tất cả các hoạt động, lĩnh vực của quá trình kinh doanh và xem
xét đầy đủ mối quan hệ, tơng quan qua lại của các tổ chức.
+Đảm bảo tính thực tiễn trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh:
Quan điểm này đòi hỏi khi đánh giá và xác định mục tiêu biện pháp nâng cao
hiệu quả kinh doanh phải xuất phát từ đặc điểm, điều kiện kinh tế xã hội của ngành,
của địa phơng và của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Chỉ có nh vậy mới có đủ cơ sở
khoa học và thực tiễn đảm bảo lòng tin cho ngời lao động, hạn chế đợc những rủi ro,
tổn thất.
+Phải căn cứ vào kết quả cuối cùng cả về hiện vật và giá trị để đánh giá hiệu quả
kinh doanh.
Quan điểm này đòi hỏi khi tính toán đánh giá hiệu quả một mặt phải căn cứ vào
số lợng sản phẩm đã tiêu thụ và giá trị thu nhập của những hàng hoá đó theo giá cả thị
trờng, mặt khác phải tính đủ chi phí đã chi ra để sản xuất và tiêu thụ hàng hoá đó.
Ngoài ra còn đòi hỏi các nhà kinh doanh phải tính toán đúng đắn, hợp lý sản lợng sản
phẩm dở dang, bán thành phẩm khi cần thiết trong quá trình kinh doanh tiếp theo.
13
Phần II
Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh tại
công ty dệt may Hà Nội.
I.Quá trình hình thành và phát triển của công ty Dệt May
Hà Nội:
1.Khái quát về công ty Dệt May Hà Nội.
-Tên đầy đủ về doanh nghiệp: Công ty Dệt May Hà Nội
-Tên giao dịch: Hanosimex
-Tên giám đốc: Phạm Hoàng Ân
-Địa chỉ: Số 1 Mai Động-Quận Hai Bà Trng-Hà Nội
-Điện thoại: 8624619- FAX: 844.8622334
-Email: hanosimex ha.ma.vn
-Giấy phép thành lập số: 105927, ngày cấp: 2-4-1993
-Vốn pháp định: 128.239.554.910đ
-Vốn điều lệ: 161.304.334.701đ
-Vốn kinh doanh: 161.304.334.701đ
-Số lợng nhân viên: 5200 ngời
-Ngành nghề kinh doanh:
+Mặt hàng kinh doanh: sợi, vải dệt kim, vải dệt trơn, vải sản phẩm may.
+Xuất khẩu: Sợi vải dệt trơn, sản phẩm may, khăn
+Nhập khẩu: Hoá chất-thuốc nhuộm, bông xơ, phụ tùng.
-Tài khoản tiền Việt: 710 A00022 Ngân hàng công 2 quận Hai Bà Trng-Hà Nội.
-Tài khoản ngoại tệ: 710 D00022 Ngân hàng ngoại tệ
-Doanh thu xuất khẩu 1999: 178.645 triệu đồng.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét