Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Thực trạng công tác tổ chức giai đoạn kết thúc kiểm toán do Công ty dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán (AASC) thực hiện

Luận văn tốt nghiệp
Ba là, xem xét lại các sự kiện tiếp sau. Có những sự kiện xảy ra sau ngày lập
bảng cân đối tài sản nhng trớc khi công bố các Báo cáo tài chính và báo cáo của
kiểm toán viên sẽ có ảnh hởng đến thông tin đợc trình bày trên các Báo cáo tài
chính. Kiểm toán viên cần thẩm tra lại các sự kiện này để xem xét mức độ ảnh h-
ởng của chúng và đa ra kết luận đúng đắn nhất.
Bốn là, đánh giá các kết quả kiểm toán. Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán,
kiểm toán viên phải đánh giá các kết quả của cuộc kiểm toán và quyết định xem
bằng chứng đã thu thập đủ cha, các t liệu đợc xem xét lại bởi những ngời nhiều
kinh nghiệm hơn ngời thực hiện ban đầu để phát hiện những sai sót và đánh giá
những lời bình và kết luận của ngời kia. Quá trình xem xét lại đúng đắn các t liệu
là một cách chủ yếu để đảm bảo việc thực hiện có chất lợng và sự phán xét độc
lập của toàn bộ tổ kiểm toán.
Năm là, lập công bố báo cáo kiểm toán. Bớc cuối cùng trong giai đoạn này
là công bố báo cáo kiểm toán thích hợp, căn cứ vào bằng chứng thu thập đợc và
các phát hiện trong quá trình kiểm toán.
Nh vậy, quy trình tiến hành một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính là một
liên hệ chặt chẽ, khoa học các bớc công việc tuần tự, cụ thể. Trong đó, giai đoạn
kết thúc kiểm toán là giai đoạn cuối cùng mà các kiểm toán viên cần thực hiện
trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm giải trình về kết quả hoạt động của đoàn kiểm
toán, phân tích đánh giá các sự kiện theo giác độ kiểm toán viên trên cơ sở các
chuẩn mực kiểm toán qui định, rút ra kết luận từ những phân tích đánh giá đó và
đa ra đề nghị đối với các đơn vị khách hàng nhằm phát huy u điểm, đồng thời
khắc phục những khiếm khuyết đợc phát hiện qua kiểm toán.
Giai đoạn lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch hay kết thúc kiểm toán đều đóng
vai trò quan trọng nhất định và không thể thiếu trong mỗi cuộc kiểm toán Báo
cáo tài chính, vì vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu chúng là hết sức cần thiết. Tuy
nhiên, do giới hạn của đề tài, trong các mục tiếp theo của chơng này tác giả
không đi sâu vào hai giai đoạn đầu mà chỉ tập trung trình bày chi tiết cơ sở lí luận
chung của giai đoạn cuối - giai đoạn kết thúc kiểm toán.
II. Nội dung các công việc hoàn tất cuộc kiểm toán:
Sau khi hoàn thành tất cả các thủ tục kiểm toán cần thiết đối với các khoản
mục trên Báo cáo tài chính hoặc thực hiện kiểm toán theo các chu trình, kiểm
toán viên rút ra kết luận kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính.
Trớc khi lập báo cáo kiểm toán, kiểm toán viên cần tổng hợp các kết quả thu thập
đợc và thực hiện một số thử nghiệm bổ sung có tính chất tổng quát. Đây chính là
công việc hoàn tất kiểm toán, bao gồm việc xem xét về giả thuyết hoạt động liên
tục, xem xét các khoản công nợ ngoài dự kiến, xem xét các sự kiện xảy ra sau
ngày kết thúc niên độ và đánh giá tổng quát về kết quả kiểm toán.
1. Xem xét tính hoạt động liên tục của doanh nghiệp:
Chuẩn mực kế toán quốc tế số 1 (IAS 1) Thể hiện chế độ kế toán do Uỷ
ban chuẩn mực kế toán quốc tế phát hành đã thừa nhận rằng khái niệm doanh
Lê Thị Khánh Linh Lớp Kiểm toán 41
5
Luận văn tốt nghiệp
nghiệp đang hoạt động hay tính liên tục hoạt động của doanh nghiệp là một
trong những khái niệm cơ bản trong việc lập các báo cáo tài chính. Khái niệm
doanh nghiệp đang hoạt động đợc đoạn 7 trong IAS 1 định nghĩa nh sau: "Một
doanh nghiệp đợc coi là đang hoạt động liên tục khi nó tiếp tục hoạt động cho
một tơng lai định trớc. Ngời ta quan niệm rằng doanh nghiệp không có ý định và
cũng không cần phải giải tán hoặc quá thu hẹp quy mô hoạt động của mình".
Trong các giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán và thực hiện các thủ tục kiểm
toán, cũng nh trong giai đoạn kết thúc cuộc kiểm toán khi đánh giá và thông báo
kết luận của mình, kiểm toán viên luôn phải đánh giá xem giả thiết "liên tục hoạt
động kinh doanh" làm cơ sở trong việc lập các Báo cáo tài chính có thiết thực
không căn cứ vào các dấu hiệu biểu hiện tính liên tục hoạt động bị vi phạm.
1.1. Các dấu hiệu biểu hiện tính liên tục hoạt động bị vi phạm:
Trong trờng hợp có nghi vấn về giả thiết "liên tục hoạt động kinh doanh",
kiểm toán viên phải thu thập các yếu tố chứng thực đầy đủ và thích hợp để đảm
bảo một cách thoả đáng khả năng tiếp tục các hoạt độngkinh doanh trong một t-
ơng lai có thể dự đoán đợc của đơn vị. Các biểu hiện tính liên tục hoạt động của
doanh nghiệp bị vi phạm có thể xuất phát từ báo cáo tài chính hoặc các nguồn
khác. Những biểu hiện điển hình thuộc loại này đợc liệt kê trong chuẩn mực kiểm
toán quốc tế số 570 (ISA) - Tính liên tục của hoạt động kinh doanh và nguyên
tắc số 23 - Doanh nghiệp đang hoạt động trong Các nguyên tắc chỉ đạo kiểm
toán quốc tế (IAG) gồm có:
Các dấu hiệu về tài chính
Giá trị thuần hoặc vốn lu động âm.
Các khoản vay dài hạn đến hạn thanh toán mà không có triển vọng gia hạn
hoặc không có khả năng chi trả, hoặc chỉ sử dụng các khoản tín dụng ngắn hạn để
tài trợ cho các khoản tài sản dài hạn.
Các tỉ suất tài chính cho dấu hiệu xấu.
Lỗ kinh doanh thực tế lớn.
Sự dây da hoặc gián đoạn của việc phân phối cổ tức.
Không có khả năng hoàn trả các khoản tín dụng đã đến hạn.
Khó khăn trong việc đáp ứng các điều kiện của hợp đồng vay.
Ngời cung cấp tín dụng từ chối cấp tín dụng trong trờng hợp không thanh
toán khoản nợ cũ.
Không có khả năng đạt đợc các nguồn tài chính tài trợ để phát triển các sản
phẩm mới cần thiết hoặc các khoản đầu t cấp thiết khác
Các dấu hiệu về hoạt động của đơn vị
Thiếu cán bộ chủ chốt mà không bổ sung đợc.
Thiếu thị trờng chính, đặc quyền, giấy phép hoặc các nhà cung cấp chủ
yếu.
Lê Thị Khánh Linh Lớp Kiểm toán 41
6
Luận văn tốt nghiệp
Rối loạn trong nội bộ công ty hay thiếu những nguyên vật liệu quan trọng.
Các dấu hiệu khác
Không tuân thủ các nghĩa vụ về vốn pháp định hay các quy định ghi trong
điều lệ khác.
Những vụ kiện cáo liên quan đến doanh nghiệp đang diễn ra có thể có kết
cục rất xấu đến sự tồn tại của doanh nghiệp.
Sự thay đổi của luật pháp hay trong quyết định của Chính phủ
1.2. Các thủ tục kiểm toán nhằm thu thập các bằng chứng về tính liên tục
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
Trong quá trình thực hiện các bớc công việc của chơng trình kiểm toán nói
chung và trong giai đoạn hoàn thành cuộc kiểm toán nói riêng, kiểm toán viên
cần đề phòng khả năng tính liên tục hoạt động của doanh nghiệp có thể không đ-
ợc thực hiện. Khi có tình huống nh vậy phát sinh, kiểm toán viên cần tập hợp các
bằng chứng đầy đủ, thích hợp để xác minh hoặc giải quyết triệt để về khả năng
của doanh nghiệp tiếp tục hoạt động cho một tơng lai thấy trớc, làm cơ sở cho
việc đa ra các nhận xét về Báo cáo tài chính. Các thủ tục kiểm toán thích hợp
trong trờng hợp này có thể bao gồm:
Phân tích và thảo luận với Ban giám đốc doanh nghiệp về những nhu cầu
ngân quỹ của đơn vị, về các kết quả mong đợi và các khoản dự trù khác vào một
ngày có hiệu lực gần sát với ngày ký báo cáo kiểm toán.
Soát xét các sự kiện phát sinh sau ngày lập bảng tổng kết tài sản để xác
định những yếu tố có thể tác động tới tính liên tục của hoạt đông kinh doanh.
Phân tích và thảo luận về báo cáo kỳ gần nhất của doanh nghiệp.
Soát xét lại các điều khoản, điều kiện và nghĩa vụ của hợp đồng vay để tìm
ra tất cả những điều kiện không đợc đơn vị tuân thủ.
Đọc các biên bản họp đại hội cổ đông, biên bản họp ban giám đốc, hội
đồng quản trị và các uỷ ban quan trọng để thấy rõ những khó khăn tài chính của
doanh nghiệp.
Thẩm vấn bộ phận t vấn pháp lí của doanh nghiệp nhằm yêu cầu cung cấp
các thông tin hoặc các vấn đề pháp lí trọng yếu nh các vụ kiện cáo hay tranh
chấp.
Xác minh tính hiện hữu, tính hợp pháp, tính hiệu lực và việc áp dụng
những thoả thuận ký với một bên liên quan hay một bên thứ ba về việc đảm bảo
hỗ trợ tài chính, đánh giá tiềm lực tài chính của bên này để có thể cung cấp các
nguồn vốn bổ sung.
Xem xét tình hình thiếu hụt đơn đặt hàng của doanh nghiệp.
Thu thập th giải trình của ban lãnh đạo doanh nghiệp về kế hoạch cho các
hoạt động sắp tới, rút ra các kết luận hợp lí để cải thiện tình hình.
Lê Thị Khánh Linh Lớp Kiểm toán 41
7
Luận văn tốt nghiệp
Ngoài ra, để đánh giá tính liên tục hoạt động của đơn vị khách hàng, kiểm
toán viên có thể sử dụng phơng pháp phân tích nhằm điều tra, phát hiện ra các
biến động bất thờng có thể ảnh hởng đến khả năng hoạt động liên tục của đơn vị.
Việc điều tra thờng bắt đầu từ việc thẩm vấn các nhà quản lí doanh nghiệp và
kiểm toán viên phải:
+ Xác minh ý kiến trả lời của các nhà quản lí doanh nghiệp - ví dụ bằng cách
so sánh các ý kiến trả lời này với các hiểu biết của kiểm toán viên về doanh
nghiệp và với các bằng chứng khác đã thu thập đợc trong quá trình kiểm toán.
+ Căn cứ vào kết quả của việc thẩm vấn các nhà quản lí doanh nghiệp để cân
nhắc sự cần thiết áp dụng các phơng pháp kiểm toán khác.
Bên cạnh đó, trong quá trình phân tích các nhu cầu tiền mặt, các kết quả
mong đợi và các kế hoạch khác của đơn vị, kiểm toán viên cần quan tâm đến độ
tin cậy của hệ thống mà đơn vị sử dụng để cung cấp các thông tin này. Kiểm toán
viên cũng xác định xem các giả thuyết đợc đặt ra đề lập kế hoạch có phù hợp với
tình huống không và cần so sánh các kế hoạch đã đợc lập trớc đây cho niên độ
với kết quả hiện thực đạt đợc.
Kiểm toán viên cũng phải xem xét và trao đổi với Ban giám đốc về các kế
hoạch hành động, chẳng hạn nh kế hoạch bán các tài sản, đi vay, thơng lợng lại
các hợp đồng tín dụng, giảm hoặc hoãn các khoản đầu t lại, hoặc tăng thêm
nguồn vốn. Các kế hoạch hành động và các biện pháp dự kiến cho tơng lai càng
xa thì chúng càng ít xác đáng. Cần phải chú ý đặc biệt đến những kế hoạch có thể
tác động đến khả năng thanh toán của đơn vị trong một tơng lai gần.
Khi thấy có vấn đề về tính liên tục hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
thì tuỳ theo mức độ kiểm toán viên sẽ có những giải trình cần thiết.
1.3. Tính liên tục hoạt động của doanh nghiệp với ý kiến của kiểm toán
viên trong báo cáo kiểm toán :
Sau khi đã thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung mà kiểm toán viên xét
thấy cần thiết, thu thập tất cả các thông tin cần có, xem xét tính thích hợp của
mọi kế hoạch của các nhà quản lí cũng nh các yếu tố làm giảm nhẹ dấu hiệu vi
phạm tính liên tục hoạt động của doanh nghiệp, kiểm toán viên phải xác định
xem các vấn đề phát sinh có liên quan đến khái niệm tính liên tục hoạt động đã
đợc giải quyết hợp lí hay cha. Nếu kiểm toán viên có đủ cơ sở để kết luận rằng
khái niệm doanh nghiệp đang hoạt động đợc sử dụng trong khi lập Báo cáo tài
chính là thích hợp thì kiểm toán viên sẽ đa ra ý kiến chấp nhận toàn phần trong
báo cáo kiểm toán. Ngợc lại, nếu kiểm toán viên xác định rằng vấn đề doanh
nghiệp đang hoạt động không đợc thực hiện thì cần phải có sự thể hiện thích hợp
trong Báo cáo tài chính về những tình tiết gây nên sự nghi ngờ về khả năng tiếp
tục hoạt động của doanh nghiệp. Việc thể hiện trong Báo cáo tài chính cần đảm
bảo các yêu cầu sau:
Mô tả các tình tiết chủ yếu đã gây nên nghi ngờ về khả năng tiếp tục tồn tại
trong tơng lai có thể biết trớc của doanh nghiệp.
Lê Thị Khánh Linh Lớp Kiểm toán 41
8
Luận văn tốt nghiệp
Xác định những nghi vấn về khả năng tiếp tục hoạt động của doanh nghiệp.
Xác định rằng Báo cáo tài chính không có những điều chỉnh liên quan tới
việc thu hồi và phân loại giá trị các tài sản đã đợc ghi chép hoặc liên quan tới
tổng số nợ và việc phân loại công nợ.
Nếu các thông tin đợc cung cấp một cách thoả đáng trong thuyết minh thì
kiểm toán viên có thể đa ra ý kiến chấp nhận toàn phần. Ngợc lại, trong trờng hợp
sự thể hiện không thoã mãn các yêu cầu nói trên thì kiểm toán viên sẽ đa ra ý
kiến chấp nhận từng phần hoặc ý kiến không chấp nhận trong báo cáo kiểm
toán.
2. Thẩm tra các khoản nợ ngoài dự kiến:
2.1. Khái niệm về khoản nợ ngoài dự kiến:
Nợ ngoài dự kiến (hay còn gọi nợ ngoài ý muốn) là một khoản nợ tiềm ẩn
trong tơng lai đối với thành phần ở bên ngoài về một số tiền cha biết sinh ra từ
các hoạt động đã xảy ra.
Để một khoản nợ ngoài ý muốn tồn tại phải hội tụ đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất, phải có một khoản thanh toán tiềm ẩn trong tơng lai đối với một
thành phần bên ngoài mà là kết quả của một điều kiện hiện có.
Thứ hai, số tiền của khoản thanh toán trong tơng lai này có sự không chắc
chắn.
Thứ ba, khoản nợ ngoài ý muốn này sẽ đợc giải quyết bởi một sự kiện hoặc
một vài sự kiện trong tơng lai.
Nếu chắc chắn có một khoản nợ tiềm ẩn trong tơng lai với số tiền có thể đợc -
ớc tính hợp lý thì khoản nợ này sẽ là khoản tính dồn và đợc chỉ rõ trong nội dung
của các Báo cáo tài chính. Nếu số tiền của khoản lỗ tiềm ẩn không đợc ớc tính
hợp lý, hoặc nếu khoản lỗ chỉ có thể xảy ra thì sẽ không phải tính dồn nhng vẫn
đợc công khai trong phần ghi chú. Khi mà khả năng xảy ra các sự kiện giải quyết
khoản lỗ trong tơng lai là rất ít thì các khoản này không cần tính dồn cũng không
cần công khai trên Báo cáo tài chính. Do đó để quyết định về cách xử lý thích
hợp đối với các khoản nợ ngoài ý muốn đòi hỏi những phán xét chuyên môn đáng
kể hay nói cách khác đòi hỏi kiểm toán viên phải có trình độ chuyên môn cao.
Khi công khai các khoản nợ ngoài ý muốn trên Báo cáo tài chính thông qua
phần ghi chú, phần ghi chú phải mô tả bản chất của nhà cố vấn pháp luật hoặc
ban quản trị về kết quả ớc tính.
Một số khoản nợ ngoài ý muốn mà kiểm toán viên nhất định phải quan tâm
nhiều bao gồm:
Vụ kiện do vi phạm đặc quyền, trách nhiệm sản phẩm hoặc các hành vi
khác đang chờ đợi xét xử.
Tranh cãi về thuế lợi tức
Bảo hành sản phẩm
Lê Thị Khánh Linh Lớp Kiểm toán 41
9
Luận văn tốt nghiệp
Phiếu nợ phải thu đã chiết khấu
Bảo đảm nợ của ngời khác
Số d cha sử dụng trong các th tín dụng còn hiệu lực.
Một số các khoản nợ tiềm ẩn này thờng đợc kiểm tra nh một phần nội dung
của các bộ phận khác nhau trong giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán hơn là
một hoạt động riêng rẽ gần cuối cuộc kiểm toán. Thí dụ nh các số d cha sử dụng
trong các th tín dụng còn hiệu lực có thể đợc khảo sát nh một phần của quá trình
xác nhận số d tài khoản tiền gửi ngân hàng và các khoản nợ ngân hàng. Tơng tự,
tranh cãi về thuế lợi tức có thể đợc kiểm tra tách biệt thì các khảo sát cũng thờng
đợc thực hiện trớc ngày cuối cùng của giai đoạn hoàn thành hợp đồng để đảm bảo
việc kiểm tra đúng đắn của chúng. Khảo sát các khoản nợ ngoài ý muốn gần ngày
cuối của giai đoạn kết thúc kiểm toán mang tính chất xem xét lại nhiều hơn là
một cuộc nghiên cứu ban đầu.
2.2 Các thủ tục kiểm toán chung đối với các khoản nợ ngoài dự kiến:
Các thủ tục kiểm toán thích hợp để khảo sát các khoản nợ ngoài dự kiến th-
ờng không đợc xác định rõ ràng nh các thủ tục đã đợc đề cập đến trong các lĩnh
vực kiểm toán khác cũng nh trong giai đoạn thực hiện kiểm toán bởi vì mục tiêu
chủ yếu ở giai đoạn đầu của các khảo sát này là xác định sự hiện diện của các
khoản ngoài ý muốn để từ đó có thể đánh giá tính trọng yếu của chúng và sự
công khai qui định một cách thoả đáng.
Dới đây là một số thủ tục kiểm toán thờng đợc sử dụng để tìm các khoản nợ
ngoài ý muốn:
Thẩm vấn Ban quản trị doanh nghiệp về khả năng tồn tại các khoản
ngoài ý muốn cha ghi sổ. Khi phỏng vấn kiểm toán viên phải tập trung mô tả các
loại khoản nợ ngoài ý muốn cần công khai.
Việc phỏng vấn Ban quản trị sẽ không có tác dụng trong việc phát hiện sự cố ý
không công khai các khoản ngoài ý muốn hiện có. Tuy nhiên, nếu ban quản trị đã
bỏ qua một loại khoản nợ ngoài ý muốn cá biệt nào đó hoặc cha hiểu hết yêu cầu
công khai các khoản nợ này thì sự phỏng vấn đã mang lại tác dụng tốt. Vào giai
đoạn hoàn thành cuộc kiểm toán, Ban quản trị phải viết một bản báo cáo nh là
một phần của th kiến nghị xác nhận là không có khoản nợ ngoài ý muốn nào cha
đợc công khai.
Xem xét loại báo cáo năm hiện hành và báo cáo năm trớc của cơ
quan thuế nội địa. Các báo cáo này có thể cho thấy những biến động bất thờng
giữa các năm.
Xem xét lại các biên bản họp hội đồng quản trị và của cổ đông để
tìm dấu hiệu của các vụ kiện hoặc các khoản nợ ngoài ý muốn khác.
Phân tích phí tổn pháp lý của kỳ đợc kiểm toán và xem xét lại các
hoá đơn và các bảng kê để tìm các dấu hiệu của các khoản nợ ngoài ý muốn, đặc
biệt là các vụ kiện và mức thuế đang chờ quyết định.
Lê Thị Khánh Linh Lớp Kiểm toán 41
10
Luận văn tốt nghiệp
Thu thập xác nhận của những luật s đã cung cấp dịch vụ pháp lý
cho đơn vị khách hàng về các vụ kiện đang chờ xét xử hoặc các khoản nợ tiềm
ẩn khác.
Đây là một trong những thủ tục chính đợc các kiểm toán viên áp dụng để
phát hiện các khoản nợ ngoài ý muốn. Từ sự xác nhận ngời cố vấn pháp luật của
khách hàng kiểm toán viên có thể có đợc các thông tin về vụ kiện đang chờ xét
xử hoặc bất kỳ một thông tin nào khác có liên quan. Nếu đã xác định đợc có tồn
tại khoản nợ ngoài ý muốn, kiểm toán viên còn phải thu thập quan điểm nghề
nghiệp của luật s về kết quả dự kiến của vụ kiện và số tiền khả dĩ của khoản nợ,
kể cả chi phí toà án.
Có rất nhiều công ty kiểm toán độc lập thờng phân tích phí tổn pháp lý của
cả năm và đề nghị đơn vị khách hàng gửi một mẫu th cho tất cả các luật s mà
công ty khách hàng có quan hệ trong năm hiện hành hoặc năm trớc, kể cả các
luật s mà khách hàng thỉnh thoảng có thuê mớn. Nh vậy, thờng có một số lợng
lớn các luật s đợc thẩm vấn kể cả những ngời chỉ chuyên về các khía cạnh của
luật lệ mà không liên quan đến các vụ kiện tiềm ẩn.
Hiện nay, các luật s thờng miễn cỡng phải cung cấp một số thông tin nhất
định cho kiểm toán viên vì sự cung cấp thông tin này gắn họ với trách nhiệm
pháp lý khi thông tin cung cấp là không chính xác hoặc thông tin bảo mật. Khi
luật s của khách hàng từ chối cung cấp thông tin đầy đủ cho kiểm toán viên về
các khoản nợ ngoài ý muốn có thể là do họ thiếu hiểu biết về các vấn đề liên
quan với các khoản nợ ngoài ý muốn hoặc do họ cho rằng những thông tin đó có
tính bảo mật.
Khi bản chất công việc pháp lý của luật s không liên quan với các khoản nợ
ngoài ý muốn, sự từ chối đáp ứng của luật s không ảnh hởng tới cuộc kiểm toán.
Nếu các khoản nợ ngoài ý muốn không liên quan đến các vụ kiện hay các vấn
đề tuân thủ luật lệ dù có ảnh hởng trực tiếp đến các Báo cáo tài chính thì việc luật
s từ chối trả lời về chúng là điều tất yếu. Tuy nhiên, khi luật s từ chối cung cấp
thông tin nằm trong phạm vi quyền hạn của anh ta mà có thể ảnh hởng trực tiếp
đến việc trình bày trung thực của các báo cáo tài chính thì kiểm toán viên phải
điều chỉnh lại kết luận của mình để phản ánh việc thiếu bằng chứng đó. Văn bản
số 12 về chuẩn mực kiểm toán (SAS 12) quy định Ban quản trị cho phép các luật
s cung cấp thông tin về khoản nợ ngoài ý muốn cho các kiểm toán viên, yêu cầu
các luật s hỗ trợ kiểm toán viên trong việc thu thập thông tin về các khoản ngoài
ý muốn. Để có đợc sự xác nhận từ luật s của khách hàng, ban quản trị đơn vị
khách hàng sẽ thảo ra th thẩm vấn và gửi cho luật s trong đó thờng gồm các phần
sau:
Mô tả nội dung các vụ kiện đang chờ xét xử hoặc bất đồng về thuế.
Đánh giá hậu quả và khả năng thiệt hại.
Yêu cầu luật s nhận dạng các vụ kiện đang chờ xét xử cha đợc liệt kê
hoặc xác nhận danh sách kê khai các vụ kiện quan trọng là đầy đủ.
Lê Thị Khánh Linh Lớp Kiểm toán 41
11
Luận văn tốt nghiệp
Yêu cầu luật s đa ra lí do giải thích cho việc từ chối cung cấp thông tin
Ngoài ra, kiểm toán viên còn xem xét các biên bản họp Hội đồng quản trị để
biết đợc các hợp đồng, các vụ kiện quan trọng v.v
Sau cùng, kiểm toán viên cần đánh giá tầm quan trọng của các khoản công
nợ ngoài dự kiến và nội dung cần thiết khai báo trên Báo cáo tài chính. Nếu khả
năng xảy ra của các khoản công nợ này đã rõ, và sai số tiền thiệt hại có thể ớc
tính đợc, nó cần đợc ghi nhận vào sổ kế toán nh một khoản công nợ thực sự. Nếu
khả năng xảy ra của các khoản công nợ này là hiếm, hoặc khoản công nợ không
trọng yếu, lúc đó việc khai báo trên Báo cáo tài chính sẽ là không cần thiết. Việc
đánh giá của kiểm toán viên phải đợc tiến hành một cách độc lập chứ không phải
dựa vào ý kiến của đơn vị.
3. Xem xét lại các sự kiện tiếp sau:
3.1. Khái niệm và các loại sự kiện tiếp sau:
Sự kiện tiếp sau là cách gọi tắt cho các sự kiện xảy ra sau ngày khóa sổ kế
toán. Đoạn 04 trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 560 - Các sự kiện phát
sinh sau ngày khoá sổ kế toán lập Báo cáo tài chínhđịnh nghĩa sự kiện tiếp sau
là những sự kiện có ảnh hởng đến Báo cáo tài chính đã phát sinh trong khoảng
thời gian từ sau ngày khoá sổ kế toán lập Báo cáo tài chính để kiểm toán đến
ngày ký báo cáo kiểm toán; và những sự kiện đợc phát hiện sau ngày ký báo cáo
kiểm toán [3, 30]. Kiểm toán viên có trách nhiệm xem xét lại các sự kiện này tự
chứng minh rằng mọi sự kiện xảy ra tiếp theo đến ngày ký báo cáo kiểm toán có
ảnh hởng đến các đánh giá hoặc sự công khai của các báo cáo đang đợc kiểm
toán hay không?
Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với việc xem xét lại các sự kiện tiếp sau
thờng bị giới hạn bắt đầu là ngày lập Bảng cân đối tài sản và kết thúc vào ngày
viết báo cáo của kiểm toán viên liên quan với việc hoàn thành các thủ tục kiểm
toán quan trọng tại đơn vị khách hàng, do đó, sự xem xét lại các sự kiện tiếp sau
phải đợc hoàn thành gần ngày cuối của hợp đồng kiểm toán.
Thông thờng, các sự kiện tiếp sau cần sự xem xét của kiểm toán viên và của
ban quản trị đợc phân làm hai loại:
a. Sự kiện ảnh hởng trực tiếp đến Báo cáo tài chính và cần đợc điều chỉnh:
Sau ngày lập Bảng cân đối tài sản thờng phát sinh một số sự kiện mà nếu số
tiền liên quan đến các sự kiện này là lớn thì cần điều chỉnh lại số d của các tài
khoản tơng ứng trên Báo cáo tài chính của năm hiện hành. Ví dụ nh:
Có một khoản phải thu cha thanh toán nhng ngời mua tuyên bố phá sản.
Số tiền thực tế giải quyết một vụ kiện không khớp với số tiền ghi sổ.
Bán các khoản đầu t với giá thấp hơn giá ghi sổ
Khi kiểm toán viên xem xét lại các sự kiện tiếp sau cần phải thận trọng để
phân biệt giữa các điều kiện đã có vào ngày lập bảng cân đối tài sản và các điều
Lê Thị Khánh Linh Lớp Kiểm toán 41
12
Luận văn tốt nghiệp
kiện mới phát sinh sau ngày cuối năm để cân nhắc việc điều chỉnh số tiền ghi
trên các báo cáo. Nếu các điều kiện gây ra sự thay đổi xảy ra sau ngày cuối năm
thì không cần điều chỉnh.
b. Những sự kiện không ảnh hởng trực tiếp đến Báo cáo tài chính nhng cần
công khai:
Khi các điều kiện gây ra sự thay đổi về cách đánh giá các số d tài khoản
trong bảng cân đối tài sản chỉ tồn tại sau ngày lập Bảng cân đối tài sản thì không
cần phải điều chỉnh trên Báo cáo tài chính, tuy nhiên có một số sự kiện mang ý
nghĩa quan trọng và cần đợc công khai trong phần ghi chú hoặc thuyết minh
trong Báo cáo tài chính. Ví dụ nh:
Mệnh giá chứng khoán đầu t tạm thời bị sụt giảm.
Sự phát hành trái phiếu.
Giá trị hàng tồn kho sụt giảm do Nhà nớc không khuyến khích việc kinh
doanh sản phẩm này.
Hàng tồn kho bị mất mát do hoả hoạn mà không đợc bảo hiểm.
3.2. Các khảo sát kiểm toán đối với các sự kiện tiếp sau:
Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 560 (ISA 560) - Các sự kiện phát
sinh sau ngày lập Báo cáo tài chính, các kiểm toán viên cần thực hiện các thủ
tục nhằm thu nhập các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp để chứng minh
rằng mọi sự kiện tính đến ngày lập báo cáo kiểm toán có thể dẫn đến điều chỉnh
hoặc cần thuyết minh trong Báo cáo tài chính đã đợc xác định; Chuẩn mực kiểm
toán Việt nam số 560 - Các sự kiện phát sinh sau ngày khoá sổ kế toán lập Báo
cáo tài chính cũng quy định: Kiểm toán viên phải xây dựng và thực hiện các
thủ tục kiểm toán nhằm thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để xác
định tất cả các sự kiện đã phát sinh đến ngày ký báo cáo kiểm toán xét thấy có
thể ảnh hởng đến Báo cáo tài chính, và phải yêu cầu đơn vị điều chỉnh hoặc
thuyết minh trong Báo cáo tài chính [3, 31]. Tuy nhiên, các kiểm toán viên
không bắt buộc phải xem xét tất cả các vấn đề mà những thủ tục áp dụng trớc đây
đã đa ra đợc những kết luận thoả đáng.
Những thủ tục kiểm toán để xem xét lại các sự kiện tiếp sau có thể dẫn đến
những điều chỉnh hoặc cần đợc thuyết minh trong Báo cáo tài chính cần đợc thực
hiện càng gần ngày lập báo cáo kiểm toán càng tốt và thông thờng đợc chia làm
hai nhóm nh sau:
Nhóm thứ nhất bao gồm các thủ tục đợc thực hiện nh một phần của các
khảo sát chi tiết số d, ví dụ nh khảo sát khả năng thu của các khoản phải thu bằng
cách xem xét lại các khoản thu tiền mặt của các kỳ tiếp sau. Các thủ tục này thực
hiện tơng tự nh ở giai đoạn thực hiện kiểm toán đã đợc đề cập đến phần trớc.
Nhóm thứ hai gồm các thủ tục, biện pháp nhằm bổ sung thêm cho các thủ
tục thông thờng ở nhóm thứ nhất áp dụng cho các nghiệp vụ giao dịch đặc biệt
Lê Thị Khánh Linh Lớp Kiểm toán 41
13
Luận văn tốt nghiệp
xảy ra sau ngày thành lập Bảng cân đối kế toán để thu nhập bằng chứng kiểm
toán về số d của các tài khoản vào ngày khoá sổ hoặc về các sự kiện đợc công
khai trong phần ghi chú. Các khảo sát đối với các sự kiện tiếp sau thuộc nhóm
này thờng bao gồm:
Một là, thẩm vấn Ban quản trị. Đối với các khách hàng kiểm toán khác
nhau nội dung cuộc thẩm vấn có thể thay đổi, nhng theo quy định của các chuẩn
mực kiểm toán Việt nam và quốc tế số thờng là về những vấn đề cụ thể nh sau:
+ Hiện trạng của các khoản mục đã đợc hạch toán trên cơ sở số liệu tạm
tính, sơ bộ hay số cha xác định .
+ Những cam kết, khoản vay hay bảo lãnh mới kí kết.
+ Bán hay dự kiến bán tài sản hoặc một bộ phận doanh nghiệp
+ Cổ phiếu hoặc trái phiếu mới phát hành; thoả thuận sát nhập hoặc thanh lí
đã kí hay dự kiến.
+ Các tài sản bị Chính phủ lấy hay bị phá huỷ, ví dụ nh do cháy hay do lụt
lội.
+ Tiến triển của các rủi ro hay các sự kiện có thể xảy ra.
+ Những điều chỉnh kế toán bất thờng đã ghi hay dự kiến.
+ Có những sự kiện nào đã xảy ra hoặc có khả năng xảy ra có thể đảo ngợc
lại tính hợp lý của các chính sách kế toán đã đợc sử dụng trong các Báo cáo tài
chính. Chẳng hạn trờng hợp những sự kiện này gây ảnh hởng đến giả thiết về tính
liên tục của hoạt động kinh doanh.
Việc thẩm vấn Ban quản trị về các sự kiện tiếp sau phải đợc tiến hành đúng
đối tợng để thu thập đợc những thông tin trả lời có ý nghĩa. Phần lớn các cuộc
phỏng vấn phải đợc thực hiện với Kế toán trởng, Giám đốc, Phó giám đốc, tuỳ
theo thông tin mong muốn.
Hai là, gửi th xác nhận cho luật s của đơn vị khách hàng. Sự liên lạc với
luật s, nh đã đợc trình bày ở phần trên, đợc thực hiện nhằm tìm kiếm các khoản
nợ ngoài ý muốn. Trong phần này, khi thu thập th xác nhận từ luật s, kiểm toán
viên phải ghi nhớ mục đích là khảo sát các sự kiện tiếp sau cho đến ngày viết báo
cáo kiểm toán, do đó kiểm toán viên thờng yêu cầu các luật s ghi ngày và gửi th
xác nhận vào ngày dự kiến hoàn thành công việc nghiệp vụ.
Ba là, xem xét lại các biên bản đại hội cổ đông, biên bản họp Ban giám đốc,
các biên bản hoặc báo cáo nội bộ đợc lập sau ngày lập Bảng cân đối tài sản nh
biên bản hợp đồng quản trị và thẩm tra những vấn đề đã đợc thảo luận tại các
cuộc họp đó mà cha ghi trong các biên bản. Quá trình xem xét lại này tập trung
vào việc xem xét các biến động trong kinh doanh liên quan với các kết quả của
cùng kỳ trong năm đợc kiểm toán, đặc biệt là các biến động lớn trong kinh doanh
hoặc môi trờng mà doanh nghiệp hoạt động. Các báo cáo nội bộ đó phải đợc đa ra
tranh luận với ban lãnh đạo khách hàng để xem xét chúng có đợc lập trên cùng
một cơ sở nh các báo cáo của kì hiện hành hay không, đồng thời kiểm toán viên
Lê Thị Khánh Linh Lớp Kiểm toán 41
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét