Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Vận dụng quan điểm toàn diện của triết học Mác _ Lê Nin để giải thích nguyên nhân của vấn đề thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường

LỜI NÓI ĐẦU
LỜI NÓI ĐẦU


Từ ngày đất nước ta có sự đổi mới về kinh tế , chuyển từ kinh tế tập trung
Từ ngày đất nước ta có sự đổi mới về kinh tế , chuyển từ kinh tế tập trung


sang cơ chế thị trường nhiều thành phần, tự do hoạch động và hạch toán nên đất
sang cơ chế thị trường nhiều thành phần, tự do hoạch động và hạch toán nên đất


nước cũng có nhiều thay đổi. Sự thay đổi này đã mang lại cho đất nước nhiều thành
nước cũng có nhiều thay đổi. Sự thay đổi này đã mang lại cho đất nước nhiều thành


tựu về kinh tế cũng như xã hội. Nhưng xét đến tính hai mặt của vấn đề thì cơ chế thị
tựu về kinh tế cũng như xã hội. Nhưng xét đến tính hai mặt của vấn đề thì cơ chế thị


trường bên cạnh những mặt được thì cũng còn những mặt chưa được : Một trong
trường bên cạnh những mặt được thì cũng còn những mặt chưa được : Một trong


những mặt chưa được đó là những mặt đó là tình trạng sinh viên ra trường thất
những mặt chưa được đó là những mặt đó là tình trạng sinh viên ra trường thất


nghiệp ngày càng tăng, vấn đề xã hội mà gần như không có trong nền kinh tế bao
nghiệp ngày càng tăng, vấn đề xã hội mà gần như không có trong nền kinh tế bao


cấp.
cấp.
Đất nước muốn phát triển thì phải đi lên từ lao động, mà sinh viên là lực
Đất nước muốn phát triển thì phải đi lên từ lao động, mà sinh viên là lực


lượng lao động trẻ, năng động, dồi dào và được đào tạo. Vì vậy đây là nguồn nhân
lượng lao động trẻ, năng động, dồi dào và được đào tạo. Vì vậy đây là nguồn nhân


lực rất quan trọng cần được sử dụng một cách hợp lý hiệu quả.
lực rất quan trọng cần được sử dụng một cách hợp lý hiệu quả.


Tình trạng sinh viên thất nghiệp sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình phát
Tình trạng sinh viên thất nghiệp sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình phát


triển kinh tế, xã hội của đất nước. Vấn đề này nguyên nhân do đâu, phải chăng là:
triển kinh tế, xã hội của đất nước. Vấn đề này nguyên nhân do đâu, phải chăng là:
- Trình độ của sinh viên không đáp ứng được yêu cầu ngày một cao của công
- Trình độ của sinh viên không đáp ứng được yêu cầu ngày một cao của công


việc, do chất lượng đào tạo thấp của các trường đại học,cao đẳng ?
việc, do chất lượng đào tạo thấp của các trường đại học,cao đẳng ?
-
-
Do lượng cung lớn hơn cầu về nguồn lao động ?
Do lượng cung lớn hơn cầu về nguồn lao động ?
-
-
Do chính sách của nhà nước chưa hợp lý trong việc sử dụng lao động ?
Do chính sách của nhà nước chưa hợp lý trong việc sử dụng lao động ?
-
-
Do sự chủ quan của sinh viên không muốn công tác tại những vùng xa, khó
Do sự chủ quan của sinh viên không muốn công tác tại những vùng xa, khó


khăn ?
khăn ?


Vấn đề này được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau vì mỗi người có một
Vấn đề này được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau vì mỗi người có một


quan điểm khác nhau. Điều này xảy ra là vì về mặt nhận thức chủ thể chưa nhìn
quan điểm khác nhau. Điều này xảy ra là vì về mặt nhận thức chủ thể chưa nhìn


nhận vấn đề một cách toàn diện, tổng thể mà chỉ nhìn ở một phía nhất định.Do vậy
nhận vấn đề một cách toàn diện, tổng thể mà chỉ nhìn ở một phía nhất định.Do vậy


bài tiểu luận này em sẽ "
bài tiểu luận này em sẽ "
Vận dụng quan điểm toàn diện của triết học Mác _ Lê
Vận dụng quan điểm toàn diện của triết học Mác _ Lê


Nin để giải thích nguyên nhân của vấn đề
Nin để giải thích nguyên nhân của vấn đề


thất nghiệp của sinh viên sau khi ra
thất nghiệp của sinh viên sau khi ra


trường"
trường"
.
.
Phần nội dung của bài tiểu luận sẽ gồm các mục sau :
Phần nội dung của bài tiểu luận sẽ gồm các mục sau :
Chương I : Phần nội dung
Chương I : Phần nội dung
I.
I.
Quan điểm toàn diện của triết học Mác _ Lê Nin
Quan điểm toàn diện của triết học Mác _ Lê Nin
Trang
Trang
1
1
II.
II.
Thực trạng của vấn đề sinh viên ra trường thất nghiệp.
Thực trạng của vấn đề sinh viên ra trường thất nghiệp.
III.
III.
Nguyên nhân của vấn đề
Nguyên nhân của vấn đề
Chương II : Kết luận và một số giải pháp
Chương II : Kết luận và một số giải pháp
Trong lần viết này bài tiểu luận của em chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết. Em
Trong lần viết này bài tiểu luận của em chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết. Em


kính mong nhận được nhiều ý kiến phê bình của các thầy cô giáo để em có thể hoàn
kính mong nhận được nhiều ý kiến phê bình của các thầy cô giáo để em có thể hoàn


thiện tốt hơn trong những lần viết sau. Em cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ
thiện tốt hơn trong những lần viết sau. Em cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ


của các thầy cô giáo trong khoa đã giúp em hoàn thành tốt bài tiểu luận này.
của các thầy cô giáo trong khoa đã giúp em hoàn thành tốt bài tiểu luận này.
Trang
Trang
2
2
Chương I : Phần nội dung
Chương I : Phần nội dung
I. Quan điểm toàn diện của triết học Mac _ Lê Nin
Trong sự tồn tại của thế giới quanh ta, mọi sự vật và hiện tượng đều có mối liên
Trong sự tồn tại của thế giới quanh ta, mọi sự vật và hiện tượng đều có mối liên


hệ và tác động qua lại với nhau chứ không tách rời nhau, cô lập nhau.
hệ và tác động qua lại với nhau chứ không tách rời nhau, cô lập nhau.
Như chúng ta đã biết “ Quan điểm toàn diện” là quan điểm được rút ra từ nguyên
Như chúng ta đã biết “ Quan điểm toàn diện” là quan điểm được rút ra từ nguyên


lý về mối liên hệ phổ biến.
lý về mối liên hệ phổ biến.
Muốn nhận thức hoặc hoạt động thực tiễn đúng về đối tượng nào đó phải tính
Muốn nhận thức hoặc hoạt động thực tiễn đúng về đối tượng nào đó phải tính


đến những mối liên hệ trong sự tồn tại của đối tượng, đề phòng khắc phục quan
đến những mối liên hệ trong sự tồn tại của đối tượng, đề phòng khắc phục quan


điểm phiến diện
điểm phiến diện
Mối liên hệ giữa các sự vật , hiện tượng là mối liên hệ của bản thân thế giới vật
Mối liên hệ giữa các sự vật , hiện tượng là mối liên hệ của bản thân thế giới vật


chất, không do bất cứ ai quy định và tồn tại độc lập với ý thức. Trên thế giới này có
chất, không do bất cứ ai quy định và tồn tại độc lập với ý thức. Trên thế giới này có


rất nhiều mối liên hệ chẳng hạn như mối liên hệ giữa sự vật và hiện tượng vật chất,
rất nhiều mối liên hệ chẳng hạn như mối liên hệ giữa sự vật và hiện tượng vật chất,


giữa cái vật chất và cái tinh thần. Các mối liên hệ đều là sự phản ánh những tác
giữa cái vật chất và cái tinh thần. Các mối liên hệ đều là sự phản ánh những tác


động qua lại, phản ánh sự quy định lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng của thế giới
động qua lại, phản ánh sự quy định lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng của thế giới


khách quan.
khách quan.
Không chỉ có vậy, các mối liên hệ còn có tính nhiều vẻ ( đa dạng)
Không chỉ có vậy, các mối liên hệ còn có tính nhiều vẻ ( đa dạng)


+ Mối liên hệ bên trong và bên ngoài
+ Mối liên hệ bên trong và bên ngoài
+ Mối liên hệ cơ bản và không cơ bản
+ Mối liên hệ cơ bản và không cơ bản
+ Mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu
+ Mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu
+ Mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp
+ Mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp
ở thế giới của các mối liên hệ, mối liên hệ bên ngoài tức là sự tác động lẫn nhau
ở thế giới của các mối liên hệ, mối liên hệ bên ngoài tức là sự tác động lẫn nhau


giữa các sự vật, mối liên hệ bên trong tức là sự tác động qua lại lẫn nhau của các
giữa các sự vật, mối liên hệ bên trong tức là sự tác động qua lại lẫn nhau của các


mặt, các yếu tố, các bộ phận bên trong của sự vật. Có mối liên hệ cơ bản thuộc về
mặt, các yếu tố, các bộ phận bên trong của sự vật. Có mối liên hệ cơ bản thuộc về


bản chất của sự vật, đóng vai trò quyết định, còn mối liên hệ không cơ bản chỉ đóng
bản chất của sự vật, đóng vai trò quyết định, còn mối liên hệ không cơ bản chỉ đóng


vai trò phụ thuộc, không quan trọng. Đôi khi lại có mối liên hệ chủ yếu hoặc thứ
vai trò phụ thuộc, không quan trọng. Đôi khi lại có mối liên hệ chủ yếu hoặc thứ


yếu. ở đó còn có mối liên hệ trực tiếp giữa hai hoặc nhiều sự vật và hiện tượng, có
yếu. ở đó còn có mối liên hệ trực tiếp giữa hai hoặc nhiều sự vật và hiện tượng, có


mối liên hệ gián tiếp trong đó có các sự vật và hiện tượng tác động lẫn nhau thông
mối liên hệ gián tiếp trong đó có các sự vật và hiện tượng tác động lẫn nhau thông


qua nhiều khâu trung gian.
qua nhiều khâu trung gian.
Khi nghiên cứu hiện tượng khách quan, chúng ta có thể phân chia các mối liên hệ
Khi nghiên cứu hiện tượng khách quan, chúng ta có thể phân chia các mối liên hệ


ra thành từng loại như trên tuỳ theo tính chất đơn giản hay phức tạp, phạm vi rộng
ra thành từng loại như trên tuỳ theo tính chất đơn giản hay phức tạp, phạm vi rộng


hay hẹp, vai trò trực tiếp hay gián tiếp, nghiên cứu sâu hay sơ qua….
hay hẹp, vai trò trực tiếp hay gián tiếp, nghiên cứu sâu hay sơ qua….
Trang
Trang
3
3
Phân chia các mối liên hệ phải phụ thuộc vào việc nghiên cứu cụ thể trong sự
Phân chia các mối liên hệ phải phụ thuộc vào việc nghiên cứu cụ thể trong sự


biến đổi và phát triển của chúng. Hay nói khác đi, khi xem xét sự vật thì phải có
biến đổi và phát triển của chúng. Hay nói khác đi, khi xem xét sự vật thì phải có


quan điểm toàn diện tức là nhìn nhận sự việc, vấn đề ở mọi góc cạnh, mọi phương
quan điểm toàn diện tức là nhìn nhận sự việc, vấn đề ở mọi góc cạnh, mọi phương


diện. Theo Lê _ Nin “Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và
diện. Theo Lê _ Nin “Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và


nghiên cứu tất cả các mối quan hệ và quan hệ gián tiếp của sự vật đó”. Chúng ta
nghiên cứu tất cả các mối quan hệ và quan hệ gián tiếp của sự vật đó”. Chúng ta


không thể làm được điều đó một cách hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự vật cần thiết phải
không thể làm được điều đó một cách hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự vật cần thiết phải


xét đến tất cả mọi mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm phải sai lầm và cứng
xét đến tất cả mọi mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm phải sai lầm và cứng


nhắc” ( Lê Nin toàn tập – NXB tiến bộ)
nhắc” ( Lê Nin toàn tập – NXB tiến bộ)
Khi xem xét sự vật hiện tượng thì luôn phải chú ý đến quan điểm toàn diện tức là
Khi xem xét sự vật hiện tượng thì luôn phải chú ý đến quan điểm toàn diện tức là


khi xem xét sự vật, hiện tượng phải nghiên cứu mọi mối liên hệ và sự tác động qua
khi xem xét sự vật, hiện tượng phải nghiên cứu mọi mối liên hệ và sự tác động qua


lại giữa chúng, sự tác động qua lại của các yếu tố, kể cả khâu trung gian, gián tiếp
lại giữa chúng, sự tác động qua lại của các yếu tố, kể cả khâu trung gian, gián tiếp


cấu thành sự vật đó, phải đặt nó trong một không gian, thời gian cụ thể, nghiên cứu
cấu thành sự vật đó, phải đặt nó trong một không gian, thời gian cụ thể, nghiên cứu


quá trình phát triển từ quá khứ, hiện tại và dự đoán cho tương lai. Thế nhưng xem
quá trình phát triển từ quá khứ, hiện tại và dự đoán cho tương lai. Thế nhưng xem


xét toàn diện không có nghĩa là xem xét tràn lan mà phải xem xét từng yếu tố cụ thể
xét toàn diện không có nghĩa là xem xét tràn lan mà phải xem xét từng yếu tố cụ thể


nhưng có tính chọn lọc. Có như thế chúng ta mới thực sự nắm được bản chất của sự
nhưng có tính chọn lọc. Có như thế chúng ta mới thực sự nắm được bản chất của sự


vật.
vật.
Và cả khi nghiên cứu xã hội thì cũng rất cần đến quan điểm toàn diện vì các mối
Và cả khi nghiên cứu xã hội thì cũng rất cần đến quan điểm toàn diện vì các mối


quan hệ trong xã hội không cô lập nhau, tách rời nhau mà trái lại chúng đan xen tác
quan hệ trong xã hội không cô lập nhau, tách rời nhau mà trái lại chúng đan xen tác


động qua lại với nhau .
động qua lại với nhau .
Tình trạng sinh viên ra trường thất nghiệp cũng là một vấn đề xã hội mà nguyên
Tình trạng sinh viên ra trường thất nghiệp cũng là một vấn đề xã hội mà nguyên


nhân gây ra là tập hợp của nhiều yếu tố tác động ảnh hưởng đến nhau. Chính vì vậy,
nhân gây ra là tập hợp của nhiều yếu tố tác động ảnh hưởng đến nhau. Chính vì vậy,


trong bài tiểu luận này em sẽ dùng quan điểm toàn diện của triết học Mác – Lê Nin
trong bài tiểu luận này em sẽ dùng quan điểm toàn diện của triết học Mác – Lê Nin


để phân tích tình trạng này.
để phân tích tình trạng này.
II . Thực trạng về sự thất nghiệp của sinh viên sau khi thất nghiệp ra trường
II . Thực trạng về sự thất nghiệp của sinh viên sau khi thất nghiệp ra trường
Từ khi đất nước ta có chính sách mở cửa giao lưu hợp tác với các nước trong
Từ khi đất nước ta có chính sách mở cửa giao lưu hợp tác với các nước trong


khu vực cũng như các nước trên thế giới, kinh tế chuyển sang nền kinh tế nhiều
khu vực cũng như các nước trên thế giới, kinh tế chuyển sang nền kinh tế nhiều


thành phần tự do cạnh tranh phát triển đã phát huy rất nhiều mặt tích cực. Mặt tích
thành phần tự do cạnh tranh phát triển đã phát huy rất nhiều mặt tích cực. Mặt tích


cực đáng chú ý là sự cố gắng vươn lên của lớp thanh niên mới để có thể đáp ứng
cực đáng chú ý là sự cố gắng vươn lên của lớp thanh niên mới để có thể đáp ứng


được yêu cầu, đòi hỏi của công việc.Sự mở rộng phát triển kinh tế thị trường thực
được yêu cầu, đòi hỏi của công việc.Sự mở rộng phát triển kinh tế thị trường thực


sự đã mang lại những cơ hội việc làm cho sinh viên có khả năng, có năng lực, linh
sự đã mang lại những cơ hội việc làm cho sinh viên có khả năng, có năng lực, linh


hoạt. Nhưng không phải mọi sinh viên ra trường đều có việc làm và đây là một vấn
hoạt. Nhưng không phải mọi sinh viên ra trường đều có việc làm và đây là một vấn


Trang
Trang
4
4
đề đang được quan tâm của xã hội. Căn cứ vào điều tra mới nhất của bộ GD- ĐT thì
đề đang được quan tâm của xã hội. Căn cứ vào điều tra mới nhất của bộ GD- ĐT thì


“năm 2000 cả nước có 126 trường đại học, cao đẳng với hơn 73000 sinh viên chính
“năm 2000 cả nước có 126 trường đại học, cao đẳng với hơn 73000 sinh viên chính


qui tốt nghiệp thì đến năm học 2001-2003 đã có 157 trường đại học, cao đẳng với
qui tốt nghiệp thì đến năm học 2001-2003 đã có 157 trường đại học, cao đẳng với


gần 12200 sinh viên ra trường’’(nguồn tin trên mạng Internet). Kết quả cho thấy tỷ
gần 12200 sinh viên ra trường’’(nguồn tin trên mạng Internet). Kết quả cho thấy tỷ


lệ chung của sinh viên có việc làm sau khi ra trường hiện nay là 72,47%, trong đó
lệ chung của sinh viên có việc làm sau khi ra trường hiện nay là 72,47%, trong đó


khối kĩ thuật công nghiệp chiếm 79,43% nông lâm ngư chiếm 71,55%, kinh tế luật
khối kĩ thuật công nghiệp chiếm 79,43% nông lâm ngư chiếm 71,55%, kinh tế luật


chiếm 74,8%, sư phạm chiếm 81,5%(báo tiền phong số 115 ra ngày 24-3-2002). Và
chiếm 74,8%, sư phạm chiếm 81,5%(báo tiền phong số 115 ra ngày 24-3-2002). Và


theo số liệu mới của viện kinh tế phát triển thì sinh viên khối kinh tế ra trường năm
theo số liệu mới của viện kinh tế phát triển thì sinh viên khối kinh tế ra trường năm


2002 thất nghiệp 87% hoặc làm việc trái nghề.
2002 thất nghiệp 87% hoặc làm việc trái nghề.
Bên cạnh những sinh viên có đủ những yêu cầu mà nhà tuyển dụng đòi hỏi hoặc
Bên cạnh những sinh viên có đủ những yêu cầu mà nhà tuyển dụng đòi hỏi hoặc


những người có người thân, xin việc hộ thì số còn lại phải chật vật chạy đi chạy lại
những người có người thân, xin việc hộ thì số còn lại phải chật vật chạy đi chạy lại


với các trung tâm giới thiệu việc làm. Cũng phải nói thêm rằng chính dựa vào sự
với các trung tâm giới thiệu việc làm. Cũng phải nói thêm rằng chính dựa vào sự


khan hiếm việc làm này mà nhiều trung tâm giới thiệu việc làm “ ma ” mọc lên vài
khan hiếm việc làm này mà nhiều trung tâm giới thiệu việc làm “ ma ” mọc lên vài


ba bữa để thu tiền lệ phí, tiền môi giới việc làm rồi biến mất. Hoặc một số sinh viên
ba bữa để thu tiền lệ phí, tiền môi giới việc làm rồi biến mất. Hoặc một số sinh viên


ra trường chấp nhận làm trái nghề hoặc bất cứ nghề gì miễn là có thu nhập.
ra trường chấp nhận làm trái nghề hoặc bất cứ nghề gì miễn là có thu nhập.
Đó là về phía sinh viên, còn về phía nhà tuyển dụng thì họ vẫn ‘ than’ là thiếu
Đó là về phía sinh viên, còn về phía nhà tuyển dụng thì họ vẫn ‘ than’ là thiếu


lao động mà theo họ là thiếu những người có kinh nghiệm và khả năng làm việc độc
lao động mà theo họ là thiếu những người có kinh nghiệm và khả năng làm việc độc


lập cũng như một số yêu cầu khác.
lập cũng như một số yêu cầu khác.
Vậy nguyên nhân của vấn đề này do đâu?
Vậy nguyên nhân của vấn đề này do đâu?
III. Nguyên nhân của vấn đề
III. Nguyên nhân của vấn đề
1. Từ phía nền kinh tế- xã hội.
1. Từ phía nền kinh tế- xã hội.
Trong những năm nước ta còn thực hiện chính sách bao cấp thì không có hiện
Trong những năm nước ta còn thực hiện chính sách bao cấp thì không có hiện


tượng sinh viên ra trường thất nghiệp. Phần lớn là vì ngày đó sinh viên còn ít số
tượng sinh viên ra trường thất nghiệp. Phần lớn là vì ngày đó sinh viên còn ít số


lượng các trường đại học không nhiều nhưng chủ yếu là sinh viên sau khi tốt nghiệp
lượng các trường đại học không nhiều nhưng chủ yếu là sinh viên sau khi tốt nghiệp


thường được nhà nước phân công tác. Nhìn bề ngoài thì có thể là đủ việc làm nhưng
thường được nhà nước phân công tác. Nhìn bề ngoài thì có thể là đủ việc làm nhưng


đôi khi những vị trí được sắp xếp vào chỉ cho đủ vị trí, cho có hình thức, nhiều lúc
đôi khi những vị trí được sắp xếp vào chỉ cho đủ vị trí, cho có hình thức, nhiều lúc


‘chơi dài ngày’ hết tháng thì nhận lương nhà nước.
‘chơi dài ngày’ hết tháng thì nhận lương nhà nước.
Nhưng từ khi nhà nước có chính sách mở cửa kinh tế nhà nước chuyển sang kinh
Nhưng từ khi nhà nước có chính sách mở cửa kinh tế nhà nước chuyển sang kinh


tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự lo cho mình, tự tính toán “ lời ăn, lỗ chịu”
tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự lo cho mình, tự tính toán “ lời ăn, lỗ chịu”


không có sự bao cấp của nhà nước thì vấn đề việc llàm thực sự trở nên bức bách.
không có sự bao cấp của nhà nước thì vấn đề việc llàm thực sự trở nên bức bách.


Cũng từ đây cơ cấu bộ máy trong các cơ quan gọn nhẹ hơn nhiều do số lao động
Cũng từ đây cơ cấu bộ máy trong các cơ quan gọn nhẹ hơn nhiều do số lao động


Trang
Trang
5
5
tuyển vào được cân nhắc kỹ lưỡng theo khối lượng và mức độ đòi hỏi của công
tuyển vào được cân nhắc kỹ lưỡng theo khối lượng và mức độ đòi hỏi của công


việc. Hiện nay, sau khi tốt nghiệp thì đa số sinh viên phải tự đi tìm việc cho mình
việc. Hiện nay, sau khi tốt nghiệp thì đa số sinh viên phải tự đi tìm việc cho mình


ngoại trừ một số trường thuộc nghành quân đội hay công an thì nghành chủ quản sẽ
ngoại trừ một số trường thuộc nghành quân đội hay công an thì nghành chủ quản sẽ


phân công công tác.
phân công công tác.
Ngày nay, chúng ta có thể thấy một hiện tượng là sinh viên tốt nghiệp ra trường
Ngày nay, chúng ta có thể thấy một hiện tượng là sinh viên tốt nghiệp ra trường


chỉ muốn trụ lại thành phố để làm việc kể cả những sinh viên xuất thân và lớn lên từ
chỉ muốn trụ lại thành phố để làm việc kể cả những sinh viên xuất thân và lớn lên từ


những miền quê. Họ chấp nhận ở lại thành phố để làm việc dù là việc không đúng
những miền quê. Họ chấp nhận ở lại thành phố để làm việc dù là việc không đúng


với nghành được đào tạo hoặc có thu nhập. Như vậy một số nơi như hải đảo, vùng
với nghành được đào tạo hoặc có thu nhập. Như vậy một số nơi như hải đảo, vùng


sâu, vùng xa thì vẫn thiếu trầm trọng nguồn nhân lực trong khi thành phố vẫn phải
sâu, vùng xa thì vẫn thiếu trầm trọng nguồn nhân lực trong khi thành phố vẫn phải


đương đầu với sức ép của tình trạng thất nghiệp.
đương đầu với sức ép của tình trạng thất nghiệp.
Đến đây ta có thể thấy được tính hai mặt của nền kinh tế thị trường.
Đến đây ta có thể thấy được tính hai mặt của nền kinh tế thị trường.
Một mặt nó tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế có khả năng phát triển mạnh
Một mặt nó tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế có khả năng phát triển mạnh


hơn, nó cũng tạo ra sự cạnh tranh và chính sự cạnh tranh cũng là động lực thúc đẩy
hơn, nó cũng tạo ra sự cạnh tranh và chính sự cạnh tranh cũng là động lực thúc đẩy


kinh tế phát triển, đi lên. Hơn nữa kinh tế thị trường sẽ làm cho mọi người phải cố
kinh tế phát triển, đi lên. Hơn nữa kinh tế thị trường sẽ làm cho mọi người phải cố


gắng nỗ lực để trang bị cho mình vốn kiến thức đầy đủ thì mới có thể tìm được việc
gắng nỗ lực để trang bị cho mình vốn kiến thức đầy đủ thì mới có thể tìm được việc


làm.
làm.
Nhưng mặt khác nền kinh tế thị trường cũng có những tác động không lớn đến
Nhưng mặt khác nền kinh tế thị trường cũng có những tác động không lớn đến


vấn đề xã hội là việc gây ra sự thiếu thừa “ giả ”về lực lượng lao động, mất cân đối
vấn đề xã hội là việc gây ra sự thiếu thừa “ giả ”về lực lượng lao động, mất cân đối


về nguồn lao động và cũng làm nẩy sinh một số vấn đề tiêu cực trong việc làm
về nguồn lao động và cũng làm nẩy sinh một số vấn đề tiêu cực trong việc làm
2. Về phía đào tạo
2. Về phía đào tạo
Tình trạng sinh viên ra trường không có việc làm một phần cũng có nguyên
Tình trạng sinh viên ra trường không có việc làm một phần cũng có nguyên


nhân ở phía đào tạo. Nhiều chương trình đào tạo quá cũ kỹ, lạc hậu từ nội dung đến
nhân ở phía đào tạo. Nhiều chương trình đào tạo quá cũ kỹ, lạc hậu từ nội dung đến


phương pháp giảng dậy. Đôi khi được học là học chạy còn vào thực tiễn thì như mới
phương pháp giảng dậy. Đôi khi được học là học chạy còn vào thực tiễn thì như mới


hoàn toàn vì học nhưng không có thực hành trang thiết bị phục vụ cho việc giảng
hoàn toàn vì học nhưng không có thực hành trang thiết bị phục vụ cho việc giảng


dậy, học tập thì không có vì vậy không phát huy được khả năng sáng tạo của sinh
dậy, học tập thì không có vì vậy không phát huy được khả năng sáng tạo của sinh


viên. Tại một số nước nền giáo dục hiện đại thì sinh viên sau khi học hết năm thứ 3
viên. Tại một số nước nền giáo dục hiện đại thì sinh viên sau khi học hết năm thứ 3


thì có thể làm việc được tại một cơ quan theo một ngành nghề đã được đào tạo.
thì có thể làm việc được tại một cơ quan theo một ngành nghề đã được đào tạo.


Phần đông ngoài các chương trình đào tạo ở trường đại học họ còn phải học thêm
Phần đông ngoài các chương trình đào tạo ở trường đại học họ còn phải học thêm


các khoá học ở ngoài như ngoại ngữ tin học để có thể đáp ứng được yêu cầu của
các khoá học ở ngoài như ngoại ngữ tin học để có thể đáp ứng được yêu cầu của


công việc.
công việc.
a. Cơ cấu đào tạo
a. Cơ cấu đào tạo
Trang
Trang
6
6
Có thể nói cơ cấu đào tạo của nước ta còn quá lạc hậu và chưa bám sát thực tế.
Có thể nói cơ cấu đào tạo của nước ta còn quá lạc hậu và chưa bám sát thực tế.


Trong khi một đất nước đang phát triển như Việt Nam rất cần đến đội ngũ kỹ sư về
Trong khi một đất nước đang phát triển như Việt Nam rất cần đến đội ngũ kỹ sư về


kỹ thuật, công nghệ, xây dựng cơ bản thì nguồn cung cấp nhân lực từ phía đào tạo
kỹ thuật, công nghệ, xây dựng cơ bản thì nguồn cung cấp nhân lực từ phía đào tạo


lại chưa đáp ứng được hết nhu cầu .Trong khi đó sinh viên trong khối kinh tế thì
lại chưa đáp ứng được hết nhu cầu .Trong khi đó sinh viên trong khối kinh tế thì


đang quá dư thừa “ 90 % sinh viên khối kinh tế ra trường không có việc làm ” là
đang quá dư thừa “ 90 % sinh viên khối kinh tế ra trường không có việc làm ” là


một phần do bên đào tạo nắm được nhu cầu thực tế về nguồn nhân lực, chưa thông
một phần do bên đào tạo nắm được nhu cầu thực tế về nguồn nhân lực, chưa thông


tin đầy đủ cho sinh viên về việc chọn nhóm ngành học, nhiều sinh viên chọn trường
tin đầy đủ cho sinh viên về việc chọn nhóm ngành học, nhiều sinh viên chọn trường


chỉ theo cảm tính chứ không tính đến mục đích phục vụ tương lai và khả năng xin
chỉ theo cảm tính chứ không tính đến mục đích phục vụ tương lai và khả năng xin


việc làm sau này.
việc làm sau này.
b. Chất lượng đào tạo
b. Chất lượng đào tạo
Hiện nay chất lượng đào tạo và thực tế còn có khoảng cách quá xa. Những gì
Hiện nay chất lượng đào tạo và thực tế còn có khoảng cách quá xa. Những gì


sinh viên được học phần lớn chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc. Nguyên
sinh viên được học phần lớn chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc. Nguyên


nhân một phần là do học không đi đôi với hành, thiếu cơ sở vật chất, trang thiết bị
nhân một phần là do học không đi đôi với hành, thiếu cơ sở vật chất, trang thiết bị


phục vụ cho việc giảng dậy và học tập hoặc nếu có thì quá xa so với thực tế công
phục vụ cho việc giảng dậy và học tập hoặc nếu có thì quá xa so với thực tế công


việc. Phần khác là do xã hội ngày càng phát triển với tốc độ cao và vì vậy sản xuất
việc. Phần khác là do xã hội ngày càng phát triển với tốc độ cao và vì vậy sản xuất


cũng thay đổi theo.Phương thức sản xuất thay đổi trong khi đó đào tạo không bắt
cũng thay đổi theo.Phương thức sản xuất thay đổi trong khi đó đào tạo không bắt


kịp được những thay đổi này vì vậy nó thường bị tụt hậu. Khi không có sự cân bằng,
kịp được những thay đổi này vì vậy nó thường bị tụt hậu. Khi không có sự cân bằng,


đồng bộ giữa đào tạo và thực tế công việc đã làm cho sinh viên sau khi ra trường
đồng bộ giữa đào tạo và thực tế công việc đã làm cho sinh viên sau khi ra trường


không đủ khả năng phục vụ cho công việc. Họ cảm thấy rất lúng túng trước những
không đủ khả năng phục vụ cho công việc. Họ cảm thấy rất lúng túng trước những


yêu cầu của đơn vị sử dụng lao động .
yêu cầu của đơn vị sử dụng lao động .
Chính vì sự phát triển của khoa học – kỹ thuật ngày càng cao nên công việc cũng
Chính vì sự phát triển của khoa học – kỹ thuật ngày càng cao nên công việc cũng


đòi hỏi đội ngũ người lao động phải có trình độ, năng lực. Điều này đòi hỏi ngành
đòi hỏi đội ngũ người lao động phải có trình độ, năng lực. Điều này đòi hỏi ngành


GD - ĐT phải phương pháp đào tạo mới, cải thiện chất lượng đào tạo để có thể bắt
GD - ĐT phải phương pháp đào tạo mới, cải thiện chất lượng đào tạo để có thể bắt


kịp được sự phát triển của thời đại.
kịp được sự phát triển của thời đại.
3. Về phía chính sách của nhà nước
3. Về phía chính sách của nhà nước
Bên cạnh những nguyên nhân về kinh tế, xã hội, đào tạo thì nguyên nhân về
Bên cạnh những nguyên nhân về kinh tế, xã hội, đào tạo thì nguyên nhân về


chính sách của nhà nước cũng là yếu tố đáng kể tác động đến vấn đề này.
chính sách của nhà nước cũng là yếu tố đáng kể tác động đến vấn đề này.
Trong những năm gần đây, nhà nước cũng có rất nhiều quan tâm đến sự nghiệp
Trong những năm gần đây, nhà nước cũng có rất nhiều quan tâm đến sự nghiệp


đào tạo nói chung và đào tạo đại học nói riêng cùng với những khuyến khích để sử
đào tạo nói chung và đào tạo đại học nói riêng cùng với những khuyến khích để sử


dụng sinh viên sau khi tốt nghiệp; ví dụ như sinh viên thuộc khối sư phạm được
dụng sinh viên sau khi tốt nghiệp; ví dụ như sinh viên thuộc khối sư phạm được


miễn học phí. Nhưng về cơ bản thì nhà nước vẫn chưa có chính sách hợp lí để
miễn học phí. Nhưng về cơ bản thì nhà nước vẫn chưa có chính sách hợp lí để


Trang
Trang
7
7
khuyến khích cũng như tạo điều kiện cho sinh viên sau khi ra trường yên tâm công
khuyến khích cũng như tạo điều kiện cho sinh viên sau khi ra trường yên tâm công


tác và phát huy hết khả năng; chẳng hạn như chính sách đối với những người về
tác và phát huy hết khả năng; chẳng hạn như chính sách đối với những người về


công tác tại những vùng sâu, vùng xa, hải đảo chưa hợp lí cho lắm nên không thu
công tác tại những vùng sâu, vùng xa, hải đảo chưa hợp lí cho lắm nên không thu


hút được sinh viên sau khi ra trường tự nguyện về đây công tác.
hút được sinh viên sau khi ra trường tự nguyện về đây công tác.
Vậy nên chăng nhà nước cần có chính sách hợp cũng như thoả đáng hơn nữa cả về
Vậy nên chăng nhà nước cần có chính sách hợp cũng như thoả đáng hơn nữa cả về


mặt vật chất cũng như tinh thần để sinh viên sau khi ra trường sẵn sàng có công tác
mặt vật chất cũng như tinh thần để sinh viên sau khi ra trường sẵn sàng có công tác


ở bất cứ nơi đâu để góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá và đổi mới đất nước.
ở bất cứ nơi đâu để góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá và đổi mới đất nước.
4/ Về phía bản thân và gia đình đối tượng được đào tạo
4/ Về phía bản thân và gia đình đối tượng được đào tạo
Bên cạnh những nguyên nhân được nêu ở trên thì nguyên nhân từ phía bản thân
Bên cạnh những nguyên nhân được nêu ở trên thì nguyên nhân từ phía bản thân


sinh viên cũng là một yếu tố gây ra tình trạng sinh viên thất nghiệp sau khi ra trường
sinh viên cũng là một yếu tố gây ra tình trạng sinh viên thất nghiệp sau khi ra trường


.
.
Chúng ta có thể nhận thấy một thực tế rằng hiện nay sinh viên ra trường đều
Chúng ta có thể nhận thấy một thực tế rằng hiện nay sinh viên ra trường đều


muốn bám trụ lại thành phố để làm việc dù công việc đó không đúng ngành được
muốn bám trụ lại thành phố để làm việc dù công việc đó không đúng ngành được


đào tạo hoặc thậm chí là công việc phổ thông miễn sao có thu nhập .Nhóm sinh viên
đào tạo hoặc thậm chí là công việc phổ thông miễn sao có thu nhập .Nhóm sinh viên


xuất thân từ các tỉnh lẻ ra thành phố học cũng không muốn trở về quê hương để
xuất thân từ các tỉnh lẻ ra thành phố học cũng không muốn trở về quê hương để


phục vụ, điều này đang làm cho các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí
phục vụ, điều này đang làm cho các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí


Minh đang quá tải về dân số cũng như sức ép về nhu cầu việc làm. Tình hình này đã
Minh đang quá tải về dân số cũng như sức ép về nhu cầu việc làm. Tình hình này đã


và đang gây ra những ảnh hưởng xấu đến chủ trương phát triển kinh tế- xã hội ở
và đang gây ra những ảnh hưởng xấu đến chủ trương phát triển kinh tế- xã hội ở


miền núi ,nông thôn của Đảng và nhà nước.
miền núi ,nông thôn của Đảng và nhà nước.
Trang
Trang
8
8
Chương II/ Kết luận chung và một số kiến nghị giải pháp
Chương II/ Kết luận chung và một số kiến nghị giải pháp
I/ Kết luận chung
I/ Kết luận chung
Qua việc phân tích những nguyên nhân gây ra hiện tượng sinh viên thất nghiệp
Qua việc phân tích những nguyên nhân gây ra hiện tượng sinh viên thất nghiệp


sau khi ra trường bằng việc vận dụng “quan điểm toàn diện của triết học Mác-
sau khi ra trường bằng việc vận dụng “quan điểm toàn diện của triết học Mác-


Lênin” phần nào cũng cho ta thấy được góc cạnh của vấn đề mặc dù phần phân tích
Lênin” phần nào cũng cho ta thấy được góc cạnh của vấn đề mặc dù phần phân tích


ở trên chỉ là rất khái quát. Chúng ta đều nhận thấy rằng tình trạng thất nghiệp ở sinh
ở trên chỉ là rất khái quát. Chúng ta đều nhận thấy rằng tình trạng thất nghiệp ở sinh


viên sau khi ra trường không phải do lỗi toàn bộ của bất cứ ban ngành nào mà nó do
viên sau khi ra trường không phải do lỗi toàn bộ của bất cứ ban ngành nào mà nó do


nhiều yếu tố tác động đến, nguyên nhân khách quan như tình hình kinh tế xã hội,
nhiều yếu tố tác động đến, nguyên nhân khách quan như tình hình kinh tế xã hội,


nguyên nhân chủ quan là về hệ thống giáo dục đào tạo,chính sách sử dụng và đãi
nguyên nhân chủ quan là về hệ thống giáo dục đào tạo,chính sách sử dụng và đãi


ngộ lao động chưa hợp lý cũng như tâm lý chủ quan về phía bản thân sinh viên.
ngộ lao động chưa hợp lý cũng như tâm lý chủ quan về phía bản thân sinh viên.


Nhưng dù nói gì đi nữa thì thất nghiệp ngày càng tăng sẽ ảnh hưởng không tốt đến
Nhưng dù nói gì đi nữa thì thất nghiệp ngày càng tăng sẽ ảnh hưởng không tốt đến


tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước nhất là Việt Nam, một nước đang
tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước nhất là Việt Nam, một nước đang


phát triển với dân số trẻ rất cần mọi tài năng, nỗ lực và sự đóng gópcủa lớp trẻ,
phát triển với dân số trẻ rất cần mọi tài năng, nỗ lực và sự đóng gópcủa lớp trẻ,


những chủ nhân tương lai của đất nước. Vì vậy để giải quyết vấn đề này thì không
những chủ nhân tương lai của đất nước. Vì vậy để giải quyết vấn đề này thì không


phải một sớm một chiều mà cần phải có thời gian và sự kết hợp từ nhiều phía. Với
phải một sớm một chiều mà cần phải có thời gian và sự kết hợp từ nhiều phía. Với


tư cách là một sinh viên cũng đang băn khoăn và lo lắng về vấn đề xã hội này nên
tư cách là một sinh viên cũng đang băn khoăn và lo lắng về vấn đề xã hội này nên


trong phần giải pháp của bài tiểu luận này em xin phép được đưa ra một số giải pháp
trong phần giải pháp của bài tiểu luận này em xin phép được đưa ra một số giải pháp


sau.
sau.


II. Giải pháp
II. Giải pháp
1. Phát triển cả về chiều sâu lẫn chiều rộng các ngành nghề sản xuất –
1. Phát triển cả về chiều sâu lẫn chiều rộng các ngành nghề sản xuất –


kinh doanh
kinh doanh
Với số dân gần 80 triệu người và chắc chắn sẽ còn tăng trong những năm tới,
Với số dân gần 80 triệu người và chắc chắn sẽ còn tăng trong những năm tới,


lượng sinh viên ra trường ngay càng nhiều vì vậy việc làm là một vấn đề cấp bách
lượng sinh viên ra trường ngay càng nhiều vì vậy việc làm là một vấn đề cấp bách


của xã hội. Để tạo thêm được công ăn việc làm thì không còn cách nào khác là phải
của xã hội. Để tạo thêm được công ăn việc làm thì không còn cách nào khác là phải


mở rộng các ngành nghề sản xuất – kinh doanh. Muốn làm được điều này thì nhà
mở rộng các ngành nghề sản xuất – kinh doanh. Muốn làm được điều này thì nhà


nước cần có những chính sách nhằm đẩy mạnh, khuyến khích các thành phần kinh
nước cần có những chính sách nhằm đẩy mạnh, khuyến khích các thành phần kinh


tế tham gia vào đầu tư, phát triển mở rộng sản xuất cũng như tạo ra các điều kiện
tế tham gia vào đầu tư, phát triển mở rộng sản xuất cũng như tạo ra các điều kiện


thuận lợi về môi trường để họ có thể hoạt động thuận tiện hơn. Bên cạnh đó nhà
thuận lợi về môi trường để họ có thể hoạt động thuận tiện hơn. Bên cạnh đó nhà


nước cũng phải là người đi đầu, chủ trương trong việc thực hiện các chương trình
nước cũng phải là người đi đầu, chủ trương trong việc thực hiện các chương trình


quốc gia về khoa học – kỹ thuật cũng như đưa nó vào thực tiễn sản xuất nhằm nâng
quốc gia về khoa học – kỹ thuật cũng như đưa nó vào thực tiễn sản xuất nhằm nâng


cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động, nâng cao điều kiện sống cho
cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động, nâng cao điều kiện sống cho


Trang
Trang
9
9
người lao động. Nếu các chính sách này được đưa vào thực tiễn thì người lao động
người lao động. Nếu các chính sách này được đưa vào thực tiễn thì người lao động


sẽ phải cố gắng hơn để nâng cao trình độ chuyên môn cho công việc và đơn vị sử
sẽ phải cố gắng hơn để nâng cao trình độ chuyên môn cho công việc và đơn vị sử


dụng cũng sẽ có điều kiện để thu hút nhiều hơn lực lượng lao động được đào tạo với
dụng cũng sẽ có điều kiện để thu hút nhiều hơn lực lượng lao động được đào tạo với


chất lượng cao.
chất lượng cao.
2.Về phía ngành đào GD - ĐT
2.Về phía ngành đào GD - ĐT
Đào tạo chính là nền tảng, là cơ sở để cho “ra lò” những lao động có kĩ năng, có
Đào tạo chính là nền tảng, là cơ sở để cho “ra lò” những lao động có kĩ năng, có


tay nghề, vì vậy đào tạo cần phải đổi mới nâng cao chất lượng để làm sao khi tốt
tay nghề, vì vậy đào tạo cần phải đổi mới nâng cao chất lượng để làm sao khi tốt


nghiệp sinh viên có khả năng đáp ưng những nhu cầu ngày một cao của công việc.
nghiệp sinh viên có khả năng đáp ưng những nhu cầu ngày một cao của công việc.


Bên cạnh đó nhà nước và bộ giáo dục cũng cần có sự phối hợp để tính toán để cân
Bên cạnh đó nhà nước và bộ giáo dục cũng cần có sự phối hợp để tính toán để cân


đối tỷ lệ hợp lý giữa các ngành nghề đào tạo, đáp ứng được nhu cầu của thực tế,
đối tỷ lệ hợp lý giữa các ngành nghề đào tạo, đáp ứng được nhu cầu của thực tế,


tránh hiện tượng thừa thì vẫn cứ thừa còn thiếu thì vẫn cứ thiếu. Nghành đào tạo
tránh hiện tượng thừa thì vẫn cứ thừa còn thiếu thì vẫn cứ thiếu. Nghành đào tạo


cũng có mối liên hệ với thị trường lao động để luôn cập nhập được xu hướng của
cũng có mối liên hệ với thị trường lao động để luôn cập nhập được xu hướng của


nhu cầu để đào tạo cho phù hợp cả về chất lượng cũng như số lượng.
nhu cầu để đào tạo cho phù hợp cả về chất lượng cũng như số lượng.
3.Về phía chính sách của nhà nước.
3.Về phía chính sách của nhà nước.
Nhà nước là người quản lý ở tầm vĩ mô do vậy nhà nước cần đưa ra các chính
Nhà nước là người quản lý ở tầm vĩ mô do vậy nhà nước cần đưa ra các chính


sác hợp lý để thu hút và tạo điều kiện cho sinh viên vào học các nghành nghề kỹ
sác hợp lý để thu hút và tạo điều kiện cho sinh viên vào học các nghành nghề kỹ


thuật nghành mà hiện nay một đất nước đang trên con đường công nghiệp hoá hiện
thuật nghành mà hiện nay một đất nước đang trên con đường công nghiệp hoá hiện


đại hoá ráat cần đến. Cùng với việc vào học nhà nước cũng nên có chính sách quan
đại hoá ráat cần đến. Cùng với việc vào học nhà nước cũng nên có chính sách quan


tâm đến những người làm việc, công tác tại những vùng xa, vùng khó khăn để động
tâm đến những người làm việc, công tác tại những vùng xa, vùng khó khăn để động


viên họ cả về mặt vật chất cũng như tinh thần để họ có thể yên tâm đem hết tâm
viên họ cả về mặt vật chất cũng như tinh thần để họ có thể yên tâm đem hết tâm


huyết và năng lực ra để phục vụ đất nước.
huyết và năng lực ra để phục vụ đất nước.
Nhà nước cũng cần tạo cơ hội để các trường đào tạo có điều kiện tiếp cận được
Nhà nước cũng cần tạo cơ hội để các trường đào tạo có điều kiện tiếp cận được


với thị trường lao động để biết đươc tình hình thực tế cũng những thay đổi về khoa
với thị trường lao động để biết đươc tình hình thực tế cũng những thay đổi về khoa


học – công nghệ ,các loại máy móc hiện đại để từ đó có thể cập nhập cho sinh viên
học – công nghệ ,các loại máy móc hiện đại để từ đó có thể cập nhập cho sinh viên


một cách liên tục và kịp thời những sự thay đổi đó.
một cách liên tục và kịp thời những sự thay đổi đó.
4.Về phía sinh viên
4.Về phía sinh viên
Hiện nay rất nhiều đói tượng chọn trường đại học nhưng không có sự định
Hiện nay rất nhiều đói tượng chọn trường đại học nhưng không có sự định


hướng cho khả năng của đầu ra sau này mà chỉ chọn như một cái “mốt” với những
hướng cho khả năng của đầu ra sau này mà chỉ chọn như một cái “mốt” với những


nghành đang “nổi” như tài chính, ngân hàng, ưu chính viễn thông …Đây là một tư
nghành đang “nổi” như tài chính, ngân hàng, ưu chính viễn thông …Đây là một tư


tưởng tiêu cực có ảnh hưởng không tốt tới quá trình phát triển kinh tế –xã hội gây ra
tưởng tiêu cực có ảnh hưởng không tốt tới quá trình phát triển kinh tế –xã hội gây ra


tình trạng thừa thiếu bất hợp lý. Và lại tâm lý hiện nay của nhiều bậc phụ huynh là
tình trạng thừa thiếu bất hợp lý. Và lại tâm lý hiện nay của nhiều bậc phụ huynh là


Trang
Trang
10
10
bắt buộc phải vào được đại học. Phải nói rằng có được tấm bằng đại học để ra nghề
bắt buộc phải vào được đại học. Phải nói rằng có được tấm bằng đại học để ra nghề


là một điều rất cần và quan trọng. Nhưng chúng ta cũng cần biết rằng đại học chưa
là một điều rất cần và quan trọng. Nhưng chúng ta cũng cần biết rằng đại học chưa


phải là con đường duy nhất để lập nghiệp. Vì vậy bản thân đối tượng được đào tạo
phải là con đường duy nhất để lập nghiệp. Vì vậy bản thân đối tượng được đào tạo


cũng như các bậc phụ huynh cần phải đánh giá lại cách nhìn nhận làm sao để chọn
cũng như các bậc phụ huynh cần phải đánh giá lại cách nhìn nhận làm sao để chọn


cho con em mình và hoàn cảnh gia đình mà vẫn có ích cho xã hội. Những sinh viên
cho con em mình và hoàn cảnh gia đình mà vẫn có ích cho xã hội. Những sinh viên


ra trường cũng cần có cách nhìn nhận đúng đắn hơn trong việc chọn cho mình một
ra trường cũng cần có cách nhìn nhận đúng đắn hơn trong việc chọn cho mình một


nơi làm việc. Một môi trường đúng với chuyên ngành được đào tạo sẽ có lợi cho cả
nơi làm việc. Một môi trường đúng với chuyên ngành được đào tạo sẽ có lợi cho cả


hai bên; người lao động sẽ làm tốt hơn công việc của mình, bên sử dụng lao động sẽ
hai bên; người lao động sẽ làm tốt hơn công việc của mình, bên sử dụng lao động sẽ


được những người có trình độ chuyên môn phù hợp, có năng lực làm việc.Sự kết
được những người có trình độ chuyên môn phù hợp, có năng lực làm việc.Sự kết


hợp hài hoà và hợp lý này sẽ giúp cho công việc đạt hiệu quả cao hơn.
hợp hài hoà và hợp lý này sẽ giúp cho công việc đạt hiệu quả cao hơn.
Trang
Trang
11
11

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét