Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

161 Tăng cường mối quan hệ chỉ đạo, phối hợp trong hệ thống các cơ quan thanh tra nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác thanh tra

thống chặt chẽ. Thực tiễn thực hiện Luật thanh tra cũng đã bắt đầu bộc lộ những
nhược điểm của sự thay đổi này nhưng dù sao thì vẫn có thể thấy sự tồn tại mối
quan hệ giữa các tổ chức thanh tra trong quá trình tổ chức và hoạt động và đây
chính là tính hệ thống mà chúng ta sẽ tập trung nghiên cứu để có những giải pháp
nhằm tăng cường mối quan hệ đó đồng thời cũng phải thấy những vấn đề còn chưa
hợp lý trong qui định của pháp luật, từ đó có những dề xuất kiến nghị sửa đổi bổ
sung kịp thời về thể chế pháp luật góp phần nâng cao hiêu quả, hiệu lực hoạt động
của các tổ chưc thanh tra
Như vậy, có thể quan niệm rằng: thanh tra nhà nước là hệ thống các các cơ
quan thanh tra từ Trung ương đến địa phương, (không bao gồm Ban Thanh tra nhân
dân) được tổ chức theo những nguyên tắc chung thống nhất, tạo thành một cơ chế
tương đối đồng bộ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của ngành thanh tra. Các
cơ quan thanh tra nhà nước có mối quan hệ tất yếu trên các mặt tổ chức, chỉ đạo,
hướng dẫn công tác, nghiệp vụ, phối kết hợp trong tiến hành các hoạt động thanh
tra.
II. Tính tất yếu khách quan của việc tăng cường mối quan hệ chỉ đạo,
phối hợp trong hệ thống thanh tra.
Tất yếu được hiểu là “nhất thiết phải có, không thể thiếu để có được một kết
quả, một tác dụng nào đó”
2
. Trong hệ thống các cơ quan thanh tra nhà nước, mối
quan hệ đa dạng, đan xen, nhiều tầng nấc giữa các cơ quan thanh tra là phổ biến và
phức tạp. Để có một lực lượng thanh tra mạnh, tinh thông nghiệp vụ, hoạt động
thanh tra trên phạm vi toàn quốc đạt hiệu lực, hiệu quả cao thì phải xây dựng được
cơ chế phối hợp thống nhất giữa các cơ quan thanh tra trong toàn ngành, vì vậy để
đạt được mục đích đó, thì việc tăng cường mối quan hệ chỉ đạo, phối hợp trong hệ
thống thanh tra là một tất yếu khách quan.
1. Mối quan hệ chỉ đạo, phối hợp của hệ thống thanh tra qua các thời
kỳ.
Lịch sử ngành Thanh tra đã trải qua những bước phát triển thăng trầm cùng
lịch sử dân tộc. Ngày 23/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 64/SL thành
2
Nguyễn Lân - Từ điển từ và ngữ Việt Nam, năm 2000 – Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh
5
lập Ban thanh tra đặc biệt, tiền thân ngành thanh tra Việt Nam. Sự ra đời của Ban
Thanh tra Đặc biệt một mặt giải quyết ngay những vấn đề đang đặt ra cho chính
quyền nhân dân còn non trẻ, mặt khác có ý nghĩa định hướng cho sự phát triển
ngành thanh tra trong suốt quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước Việt Nam xã
hội chủ nghĩa. Tuy nhiên hoạt động của Ban thanh tra đặc biệt chỉ giải quyết một số
việc điển hình. Đây là thời kỳ thành lập và bắt đầu hoạt động của ngành Thanh tra,
số cán bộ trong lực lượng thanh tra còn rất ít, Thanh tra chưa có một hệ thống tổ
chức chặt chẽ, chưa hoạt động thường xuyên.
Thời gian năm 1946 – 1949, cả dân tộc tiến hành cuộc kháng chiến chống
Thực dân Pháp. Để tiến hành chỉ đạo cuộc kháng chiến thuận lợi có hiệu quả, bộ
máy chính quyền các cấp được tổ chức, kiện toàn. Đầu năm 1946 Chính phủ thành
lập Ban Thanh tra ở Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Canh nông
Ngày 04/08/1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh cử đồng chí Tôn Đức Thắng,
nguyên Bộ trưởng Bộ Nội vụ sung chức Thanh tra đặc biệt toàn quốc. Bên cạnh
Ban Thanh tra đặc biệt, Đảng, Chính phủ thành lập các Đặc uỷ Đoàn và các Đặc
phái viên. Như vậy tổ chức thanh tra nhà nước thời kỳ này đã có các cơ quan thanh
tra thực hiện các nhiệm vụ khác nhau. Các Đặc uỷ Đoàn hoạt động với tư cách như
một cơ quan thanh tra của Chính phủ; các cơ quan thanh tra trong các bộ là cơ quan
thanh tra chuyên ngành. Mối quan hệ phối hợp giữa các tổ chức thanh tra trong thời
kỳ đã hình thành nhưng còn tương đối hạn chế. Công tác chỉ đạo, phối hợp giữa các
Đặc uỷ Đoàn, Đặc uỷ viên và Cục Tổng thanh tra quân đội trong thời gian này do
Hồ Chủ tịch thống nhất chỉ đạo, điều hành, phục vụ mục đích chung là xây dựng
lực lượng vũ trang, đảm bảo cơ sở cho kháng chiến thắng lợi.
Thời gian năm 1950 – 1954, sau ba năm toàn quốc kháng chiến. Trung ương
Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định phải xây dựng bộ máy nhà
nước vững mạnh, đồng thời phải củng cố công tác thanh tra đi vào nề nếp, có tổ
chức thống nhất, được lãnh đạo chặt chẽ, phối kết hợp trong công tác thanh tra để
đạt hiệu quả cao. Trước hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, Ban thanh tra Đặc biệt không
còn phù hợp với giai đoạn lịch sử, Chính phủ quyết định thành lập một Ban thanh
tra mới của Chính phủ để thống nhất hoạt động trong thanh tra cả nước. Ngày
18/12/1949 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 138/SL thành lập Ban Thanh tra
6
Chính phủ trực thuộc Thủ tướng. Ban Thanh tra Chính phủ được tổ chức chặt chẽ,
có hệ thống và có mối liên hệ mật thiết với Ban kiểm tra Trung ương Đảng. Thời
kỳ này Ban Thanh tra Chính phủ tiến hành chỉ đạo công tác thanh tra ở các Bộ, các
địa phương, làm cho công tác thanh tra đi vào nề nếp, thường xuyên và đạt hiệu
quả to lớn. Song song với công tác thanh tra việc chấp hành chủ trương, chính sách
của Đảng, Nhà nước, Ban Thanh tra Chính phủ đã chủ động phối hợp với Ban
Kiểm tra Trung ương Đảng, phối hợp với Cục Tổng Thanh tra Quân đội làm rõ một
số vụ tham ô lớn trong, ngoài quân đội, thanh tra việc xây dựng hậu phương, dự trữ
lương thực, thực phẩm, thanh tra việc xây dựng lực lượng dân quân, du kích, công
tác phòng gian bảo mật của các địa phương. Đây là cuộc thanh tra toàn diện có quy
mô rộng lớn của Ban Thanh tra Chính phủ.
Như vậy, trong khoảng thời gian gần 10 năm, vừa kháng chiến, vừa kiến
quốc, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng bước xây dựng ngành
thanh tra, đặt nền tảng vững chắc cho việc phát triển hệ thống tổ chức thanh tra
chính quy trong giai đoạn tiếp theo.
Từ năm 1955 đến năm 1975 tổ chức thanh tra nhà nước đã dần được kiện
toàn và trở thành một hệ thống từ trung ương đến địa phương. Ngày 28/03/1956
Chủ tịch nước đã ký sắc lệnh số 261/SL thành lập Ban thanh tra Trung ương của
Chính phủ. Ngày 26/12/1956 Thủ tướng Chính phủ ban hanh Nghị định số
1194/TTg thành lập các Ban Thanh tra ở các liên khu, khu, thành phố và tỉnh, các
Ban Thanh tra này đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Uỷ ban hành chính các cấp và
chịu sự hướng dẫn của thanh tra cấp trên. Ngày 29/09/1961 Hội đồng Chính phủ
ban hành Nghị định số 136/NĐ thành lập Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ thay cho
Ban Thanh tra Trung ương của Chính phủ.
Ngày 25/03/1965 Hội nghị Ban chấp hành Trung ương họp đã nhận định cả
nước có chiến tranh. Miền Bắc phải chuyển hướng về tư tưởng và tổ chức, tăng
cường lực lượng quốc phòng cho phù hợp với thời chiến. Thực hiện chủ trương
này, Đảng, Nhà nước quyết định thay đổi tổ chức, giải thể một số cơ quan, trong đó
có Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ. Công tác thanh tra giao cho thủ trưởng các
cấp, các ngành, các cơ quan phụ trách, để gắn công tác thanh tra với việc chỉ đạo
thực hiện chỉ tiêu, kế hoạch nhà nước và các nhiệm vụ công tác khác. Ở các tỉnh,
7
thành phố công tác thanh tra do Uỷ ban hanh chính các cấp đảm nhiệm, các Bộ,
Tổng cục tổ chức thanh tra không giải thể được tiếp tục hoạt động, những cơ quan
chưa thành lập Ban Thanh tra được phép thành lập Ban Thanh tra để thanh tra các
vụ việc do lãnh đạo cơ quan yêu cầu. Đây là thời kỳ hệ thống cơ quan thanh tra nhà
nước bị thu hẹp, chỉ có các Ban thanh tra của Bộ, ngành hoạt động là chủ yếu, mối
quan hệ giữa các cơ quan thanh tra gần như không có, không có sự chỉ đạo chung
thống nhất của ngành thanh tra. Chính vì vậy một số chính sách của Đảng, Nhà
nước bị vi phạm, công tác quản lý kinh tế bị buông lỏng, đơn thư khiếu nại, tố cáo
của công dân chậm được xử lý.
Trước tình hình đó Đảng, Nhà nước đã nhận định, cần phải chấn chỉnh hệ
thống tổ chức thanh tra, bổ sung, kiện toàn bộ máy cho tương xứng với nhiệm vụ,
qua đó tăng cường mối quan hệ chỉ đạo, phối hợp giữa các cơ quan thanh tra góp
phần nâng cao hiệu quả công tác thanh tra và công tác quản lý nhà nước. Ngày
11/08/1969 Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra nghị quyết số 780/NQ-
TVQH thành lập Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ. Tháng 10/1970 Uỷ ban Thanh
tra của Chính phủ triệu tập Hội nghị thanh tra toàn miền Bắc, Hội nghị nhất trí
củng cố và hoàn thiện bộ máy thanh tra chuyên trách từ Trung ương đến địa
phương, các bộ, các tổng cục.
Đến năm 1971 cơ quan thanh tra nhà nước đã được hình thành ở hầu khắp
các ngành, các địa phương và thực sự là trở thành một hệ thống từ Trung ương đến
địa phương, hoạt động có tính chất chuyên nghiệp. Trong tình hình chung của cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước, các cơ quan thanh tra đã có mối quan hệ phối
hợp trong hoạt động công tác của mình, phục vụ mục đích chung của ngành. Để
công tác thanh tra hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ thì việc tăng cường công tác
chỉ đạo, phối hợp giữa các cơ quan thanh tra là một điều tất yếu nhằm phục vụ mục
đích cuối cùng là đảm bảo mọi cơ sở cho thắng lợi cuối cùng của dân tộc, thống
nhất nước nhà.
Năm 1975 đất nước hoàn toàn giải phóng, cả nước tiến nhanh, tiến mạnh,
tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Trước tình hình mới, nhiệm vụ của Đảng, Nhà
nước hết sức nặng nề, chính quyền cách mạng gấp rút được thiết lập, hoàn thiện ở
địa bàn các tỉnh, thành phố mới giải phóng. Đảng, Nhà nước ta nhanh chóng xây
8
dựng, kiện toàn bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương, xây dựng đội ngũ
cán bộ, công nhân viên chức đáp ứng yêu cầu đòi hỏi mới của cách mạng Việt Nam
trong giai đoạn mới.
Từ năm 1976 đến năm 1990, hệ thống các cơ quan Thanh tra từ Trung ương
đến các tỉnh đã được thiết lập, tạo điều kiện mới cho ngành Thanh tra nhanh chóng
triển khai hệ thống tổ chức đến các cấp cơ sở địa phương. Để tăng cường chức
năng quản lý nhà nước về thanh tra. Ngày 15/12/1984 Hội đồng Bộ trưởng ra nghị
quyết số 26/HĐBT về việc tăng cường tổ chức thanh tra nêu rõ về hệ thống thanh
tra nhà nước các cấp gồm: Uỷ ban Thanh tra nhà nước Trung ương, Uỷ ban thanh
tra Nhà nước cấp tỉnh, thành phố, quận, huyện và tương đương. Đây thực sự là một
hệ thống tổ chức thanh tra được quản lý chỉ đạo tập trung thống nhất từ trung ương
đến cơ sở.
Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trong thời kỳ này là hết sức quan
trọng. Nền kinh tế tập trung, bao cấp, phát sinh nhiều biểu hiện tiêu cực, trình độ
quản lý nhà nước còn yếu kém. Vai trò của ngành Thanh tra là hết sức to lớn, các
cơ quan thanh tra chủ động phối hợp mở nhiều cuộc thanh tra trên các mặt kinh tế,
văn hóa, giáo dục của các bộ, ngành và các địa phương và thu được kết quả.
Ngày 01/04/1990 Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký lệnh công bố Pháp lệnh
thanh tra. Pháp lệnh đổi tên Uỷ ban Thanh tra Nhà nước thành Thanh tra Nhà nước.
Thanh tra Nhà nước là cơ quan của Hội đồng Bộ trưởng, có chức năng quản lý nhà
nước về công tác thanh tra và thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi cả nước. Hệ
thống thanh tra nhà nước ở các bộ, ngành, thanh tra các tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương, thanh tra các sở, thanh tra các quận, huyện, thị xã cũng được kiện toàn.
Năm 2004 Luật Thanh tra được ban hành, mở ra một thời kỳ mới của công
tác thanh tra. Luật đổi tên Thanh tra Nhà nước thành Thanh tra Chính phủ. Quy
định tổ chức, hoạt động của các cơ quan thanh tra nhà nước. Các cơ quan thanh tra
nhà nước bao gồm:
- Cơ quan thanh tra được thành lập theo cấp hành chính;
- Cơ quan thanh tra được thành lập ở cơ quan quản lý theo ngành, lĩnh vực.
9
Cơ quan thanh tra nhà nước chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ trưởng cơ quan
quản lý nhà nước cùng cấp; đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác, tổ
chức và nghiệp vụ của Thanh tra Chính phủ; chịu sự hướng dẫn về công tác, nghiệp
vụ của cơ quan thanh tra cấp trên.
Như vậy, thanh tra được tổ chức có hệ thống, giữa các cơ quan thanh tra có
mối quan hệ gắn bó với nhau trong quá trình tổ chức và hoạt động. Để góp phần
nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động thanh tra thì việc tăng cường mối quan
hệ chỉ đạo, phối hợp trong hệ thống các tổ chức thanh tra nhà nước là tất yếu.
Trải qua 60 năm xây dựng và trưởng thành, ngành thanh tra Việt Nam từng
bước xây dựng và kiện toàn bộ máy tổ chức cũng như chú trọng đến công tác cán
bộ, phát triển chuyên môn nghiệp vụ, công tác thanh tra được khẳng định là chức
năng thiết yếu của quản lý nhà nước. Trong lịch sử phát triển của ngành có lúc
thăng, lúc trầm theo từng nhiệm vụ cụ thể của cách mạng Việt Nam, nhưng công
tác thanh tra vẫn được Đảng, Nhà nước xem trọng. Các cơ quan thanh tra dần được
xây dựng, phát triển thành hệ thống. Trong thời gian nào thì mối quan hệ nội tại
giữa các cơ quan thanh tra là rất cần thiết và để công tác thanh tra đạt hiệu quả,
hiệu lực cao góp phần đảm bảo các hoạt động quản lý nhà nước đúng đắn, nghiêm
minh thì việc tăng cường mối quan hệ chỉ đạo, phối hợp giữa các tổ chức thanh tra
trong các cơ quan thanh tra nhà nước là một điều tất yếu khách quan.
2. Sự cần thiết tăng cường mối quan hệ chỉ đạo, phối hợp của các cơ
quan thanh tra trong giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam.
Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện do Đảng đề xướng, xây dựng và phát
triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu
đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân, tạo nền tảng vững chắc để nước ta phát triển thành một nước
công nghiệp theo hướng hiện đại hóa. Bên cạnh đó, việc tăng cường mở rộng hợp
tác, nắm bắt và trao đổi thông tin với bạn bè quốc tế là một xu thế tất yếu của tiến
trình hội nhập.
Trước bối cảnh đó, một yêu cầu đặt ra là phải có những cải cách bộ máy nhà
nước cho phù hợp với tình hình mới. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI khi đề ra
10
đường lối đổi mới đã chỉ rõ “thực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy
của các cơ quan nhà nước”. Tiếp đó, nhiều văn kiện và nghị quyết của Đảng tiếp
tục nhấn mạnh phải xúc tiến xây dựng và từng bước hoàn thiện bộ máy nhà nước.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) đã
nêu ra những quan điểm cơ bản và phương hướng tiếp tục xây dựng, hoàn thiện
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VIII và sau đó Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung
ương Đảng (khóa VIII) tiếp tục khẳng định và đề ra những phương hướng và biện
pháp quan trọng, trong đó nhấn mạnh phải chú trọng xây dựng bộ máy nhà nước
trong sạch, vững mạnh, đủ điều kiện đáp ứng tiến trình hội nhập của đất nước.
Theo tinh thần Nghị quyết của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản
pháp lý quan trọng nhằm xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước theo hướng tinh
giản, gọn nhẹ và hoạt động có chất lượng. Thực tế cho thấy tổ chức và hoạt động
của bộ máy nhà nước có nhiều chuyển biến tích cực. Những tiến bộ đó đã góp phần
quan trọng vào công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, nhất là đổi mới cơ chế
quản lý.
Qua 60 năm phát triển và trưởng thành, Thanh tra từng bước phát triển theo
yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng đất nước. Qua mỗi thời kỳ phát triển của
cách mạng, tổ chức và hoạt động của thanh tra lại có bước phát triển mới. Trong
công cuộc đổi mới hiện nay công tác thanh tra càng trở nên quan trọng. Hoạt động
thanh tra phải làm cho bộ máy hành chính nhà nước hoạt động tốt hơn, hiệu quả
hơn. Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba (khóa VIII) của Đảng đã xác định “tăng cường
tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra, coi đó là công cụ quan trọng và hữu hiệu
để đảm bảo hiệu lực quản lý nhà nước, thiết lập kỷ cương xã hội”.
Hoạt động thanh tra, kiểm tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản
lý, là một khâu quan trọng trong quá trình quản lý. Vai trò của mối quan hệ chỉ đạo,
phối hợp giữa các tổ chức thanh tra nhà nước được thể hiện rõ nét trong các lĩnh
vực: tổ chức bộ máy và nhân sự; trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và phương thức hoạt động của các tổ chức thanh tra. Để thực hiện tốt chức
năng, nhiệm vụ của mình bản thân ngành thanh tra phải có những tìm tòi, sáng tạo,
tự đổi mới cả về tổ chức và hoạt động đề nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác
11
thanh tra. Đổi mới công tác thanh tra có nhiều nội dung, trong đó việc tăng cường
mối quan hệ chỉ đạo, phối hợp giữa các tổ chức thanh tra nhà nước là một nội dung
cơ bản và cần thiết.
Vai trò của mối quan hệ chỉ đạo, phối hợp giữa các cơ quan thanh tra nhà
nước.
Các cơ quan thanh tra nhà nước được tổ chức trên cơ sở gắn kết chặt chẽ với
cơ quan quản lý nhà nước, theo ngành, lĩnh vực và theo lãnh thổ. Tính hệ thống của
các cơ quan thanh tra nhà nước xuất phát và được quyết định bởi tính hệ thống của
các cơ quan quản lý. Nội dung của tính hệ thống này bao gồm hai thành tố cơ bản:
các cơ quan thanh tra nhà nước với tư cách là chủ thể trong hệ thống và mối quan
hệ tác động qua lại giữa các chủ thể này. Và vì vậy, mối quan hệ chỉ đạo, phối hợp
giữa các cơ quan thanh tra nhà nước giữ một vai trò quan trọng, mang tính thiết yếu
trong tổng thể công tác thanh tra.
Thanh tra là một khâu của quản lý, mang đầy đủ các đặc điểm của hoạt động
quản lý. Do vậy, mối quan hệ giữa các cơ quan thanh tra nhà nước có thể hiểu là
một dạng cụ thể của quan hệ trong quản lý, giữa các chủ thể trong một nhóm chủ
thể cụ thể của quản lý.
Xuất phát từ đặc trưng cơ bản nhất của tổ chức quyền lực trong bộ máy nhà
nước ta đó là tính thống nhất, có sự phân công, phối hợp trong thực hiện, hệ thống
cơ quan hành chính nhà nước cũng được xây dựng và hoạt động dựa trên nguyên
tắc đảm bảo tính thống nhất của quyền lực nhà nước, đồng thời, có sự phân công,
phân nhiệm, chỉ đạo, phối hợp cụ thể nhằm phát huy tính chất chuyên sâu của quản
lý, sự chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của các chủ thể trong quản lý. Cụ
thể, các cơ quan quản lý hành chính nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc quản lý
theo ngành, lĩnh vực kết hợp với quản lý theo lãnh thổ. Mỗi cơ quan hành chính
được phân công thực hiện quản lý nhà nước theo các lĩnh vực cụ thể hoặc quản lý
chuyên môn tổng hợp trên một địa bàn lãnh thổ nhất định. Để đảm bảo hiệu lực,
hiệu quả hoạt động quản lý của bản thân từng cơ quan hành chính cũng như của cả
hệ thống các cơ quan hành chính, mỗi cơ quan hành chính bên cạnh việc làm tốt
12
các nhiệm vụ quản lý của mình còn phải chú trọng thực hiện tốt các mối quan hệ
phối hợp với các cơ quan hữu quan khác.
Các cơ quan thanh tra nhà nước cũng được tổ chức theo mô hình tổ chức của
các cơ quan quản lý, gồm có: cơ quan thanh tra được thành lập theo cấp hành chính
và cơ quan thanh tra được thành lập ở cơ quan quản lý theo ngành, lĩnh vực. Và
cũng như cơ quan quản lý, các cơ quan thanh tra nhà nước cũng phải rất coi trọng
thực hiện các hoạt động phối hợp trong công tác thanh tra, bao gồm phối hợp theo
cấp hành chính, phối hợp theo ngành, lĩnh vực và phối hợp giữa cơ quan thanh tra
theo cấp và cơ quan thanh tra theo ngành, lĩnh vực.
Như đã phân tích, công tác thanh tra có tính thống nhất, xuất phát từ tính
thống nhất của quản lý hành chính nhà nước. Sự thống nhất của công tác thanh tra
thể hiện trên các mặt: thống nhất về tổ chức các cơ quan thanh tra nhà nước và
thống nhất trong hoạt động thanh tra. Khi tiến hành hoạt động thanh tra, các cơ
quan thanh tra nhà nước đều hướng tới mục tiêu chung: “phòng ngừa, phát hiện và
xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý,
chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện
pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả
của hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Để đạt tới mục tiêu này, các cơ quan thanh tra
nhà nước tiến hành hoạt động thanh tra dựa trên nền tảng pháp lý chung là Luật
Thanh tra, với các biện pháp, công cụ về cơ bản là thống nhất.
Mối quan hệ phối hợp cũng như các hoạt động phối hợp cụ thể là một yếu tố
quan trọng đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống thanh tra, cả về tổ chức và hoạt
động thanh tra. Mối quan hệ phối hợp này bao gồm mối quan hệ chỉ đạo, điều phối
giữa cơ quan thanh tra nhà nước ở cấp quản lý cao hơn và cơ quan thanh tra nhà
nước ở cấp quản lý thấp hơn và mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan thanh tra
nhà nước ngang cấp hoặc tương đương. Một trường hợp cụ thể về đảm bảo tính
thống nhất đó là thống nhất trong văn bản pháp luật về thanh tra. Luật Thanh tra
quy định rõ mối quan hệ phối hợp để giải quyết trường hợp khi có sự mâu thuẫn về
văn bản pháp luật về thanh tra. Theo đó, Tổng Thanh tra có quyền kiến nghị Bộ
trưởng đình chỉ việc thi hành hoặc huỷ bỏ những quy định do bộ đó ban hành trái
13
với các văn bản pháp luật của Nhà nước, của Tổng thanh tra về công tác thanh tra
hoặc đình chỉ việc thi hành và đề nghị Thủ tướng Chính phủ bãi bỏ những quy định
của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trái với văn bản
của Tổng thanh tra về công tác thanh tra
Bên cạnh tính thống nhất, cũng giống với hoạt động quản lý hành chính nhà
nước, công tác thanh tra còn phải đảm bảo sự phân công, phân cấp thích hợp trong
tổ chức và hoạt động. Theo đó, mỗi cơ quan thanh tra tiến hành thanh tra trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, lĩnh vực hay cấp mình. Trên thực tế, có nhiều trường
hợp cơ quan thanh tra thực hiện hoạt động thanh tra không đúng thẩm quyền, theo
cấp hoặc theo lĩnh vực. Điều này rõ ràng xâm phạm đến trật tự đúng đắn của quản
lý và làm giảm hiệu quả công tác thanh tra. Vì vậy, trong những trường hợp này,
các cơ quan thanh tra cần phải có sự liên hệ thường xuyên, sự điều phối, phối hợp
chặt chẽ nhằm đảm bảo vụ việc được tiến hành đúng thẩm quyền cũng như chuyên
môn. Luật Thanh tra cũng đã ghi nhận và quy định rõ nội dung này. Ví dụ như,
Tổng Thanh tra có quyền đề nghị Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thanh tra trong phạm vi
quản lý của bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương.
Thực tiễn công tác thanh tra cho thấy có rất nhiều vụ việc thanh tra mang
tính chất liên ngành, liên quan đến phạm vi quản lý của nhiều Bộ, ngành, địa
phương. Trong trường hợp này, cần có sự chỉ đạo, điều phối chung của cơ quan
thanh tra cấp trên cũng như sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan thanh tra ngang
cấp có liên quan.
Như vậy, mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan thanh tra có vai trò rất
quan trọng trong công tác thanh tra. Để tăng cường hiệu quả, hiệu lực công tác
thanh tra thì việc tăng cường mối quan hệ phối hợp, chỉ đạo trong hệ thống các cơ
quan thanh tra nhà nước là một tất yếu khách quan.
III. Thực trạng mối quan hệ chỉ đạo, phối hợp trong hệ thống thanh tra
trong những năm qua.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét